Hiển thị các bài đăng có nhãn Hỏi - Đáp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hỏi - Đáp. Hiển thị tất cả bài đăng

18 thg 9, 2009

Nghỉ việc từ 1-2009, có được nhận trợ cấp thôi việc?

http://www.saga.vn/Upload/kingeric/nghiviec.jpg

Hỏi: Tôi nộp đơn xin nghỉ việc vào ngày 4-1-2009 và xin được kết thúc công việc vào ngày 28-2-2009 và đã được cấp trên trực tiếp đồng ý. Hợp đồng lao động (HĐLĐ) của tôi được ký là hợp đồng không xác định thời hạn với mức lương 1 triệu đồng (lương thực lĩnh 6 triệu đồng).

Tính đến thời điểm nghỉ việc, tôi đã làm việc cho công ty 3 năm liên tục. Tôi được Giám đốc tài chính của công ty thông báo: "Theo luật Lao động sửa đổi bổ sung, bắt đầu từ ngày 1-1-2009, doanh nghiệp không phải trả trợ cấp thôi việc cho người lao động (NLÐ) mà chỉ phải trả bảo hiểm thất nghiệp và NLÐ chỉ được lĩnh sau 1-10-2010".

Nhiều nhân viên khác ở công ty của tôi khi xin nghỉ cũng không nhận được trợ cấp thôi việc với lý do trên (có người đã từng làm liên tục 5 năm). Xin quý báo cho biết nếu áp dụng đúng luật định trong trường hợp của tôi thì như thế nào? Tôi cần liên hệ ở đâu để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình?

Nếu được nhận trợ cấp thôi việc, công ty chỉ áp dụng với đúng mức lương ghi trên HĐLĐ? (trước đây có một trường hợp xin nghỉ việc trước 1-1-2009, công ty có trả trợ cấp thôi việc nhưng Giám đốc tài chính cho biết: Lương hợp đồng thì BHXH sẽ trả, công ty trả nửa tháng lương cho phần chênh lệch giữa mức lương thực lãnh và lương hợp đồng).

- Tư vấn của Việc làm Online:

Theo quy định tại Khoản 1 Ðiều 42 Bộ luật lao động đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002 đang có hiệu lực thi hành và Khoản 1 Ðiều 14 Nghị định 44/2003/NÐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về HĐLĐ, khi chấm dứt HĐLĐ đối với NLĐ đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức từ đủ 12 tháng trở lên, người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương, nếu có.

Đồng thời, theo quy định tại Ðiều 15 nghị định 114/2002/NÐ-CP ngày 31-12-2002 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tiền lương thì tiền lương làm căn cứ tính các chế độ trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, bồi thường do đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật, bồi thường tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là tiền lương theo HĐLĐ, được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi sự việc xảy ra, gồm tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ.

Điều 15 Nghị định số 127/2008/NÐ-CP ngày 12-12-2008 có hiệu lực áp dụng từ 1-1-2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một một số điều của Luật BHXH 2006 về bảo hiểm thất nghiệp có quy định điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp theo Ðiều 81 Luật BHXH như sau:

1. Ðã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ mười hai tháng trở lên trong vòng hai mươi bốn tháng trước khi bị mất việc hoặc chấm dứt HĐLĐ theo quy định của pháp luật lao động hoặc chấm dứt hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.

2. Ðã đăng ký với cơ quan lao động khi bị mất việc làm, chấm dứt HĐLĐ hoặc hợp đồng làm việc.

3. Chưa tìm được việc làm sau thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày đăng ký với cơ quan lao động theo quy định tại Khoản 2 Ðiều 15 của Nghị định 127/2008/NÐ-CP.

Ðiều 16 Nghị định số 127/2008/NÐ-CP nói trên cũng quy định việc trợ cấp thất nghiệp theo Ðiều 82 Luật BHXH 2006 như sau: Trợ cấp thất nghiệp là khoản tiền hằng tháng được trả cho người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Ðiều 15 Nghị định 127/2008/NÐ-CP".

Ngoài ra, Khoản 2 Điều 41 Nghị định số 127/2008/NÐ-CP nói trên cũng quy định như sau:

"Thời gian người lao động thực tế làm việc theo các bản HĐLĐ, hợp đồng làm việc với người sử dụng lao động mà không phải đóng bảo hiểm thất nghiệp thì được tính để xét hưởng trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo quy định của pháp luật lao động hiện hành hoặc trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.

Tiền lương, tiền công làm căn cứ tính chế độ trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo pháp luật về lao động là tiền công, tiền lương theo hợp đồng lao động, được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi mất việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, gồm tiền công hoặc tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có)...".

Theo quy định nêu trên thì sau ngày 1-1-2009, nếu NLĐ đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp, bị mất việc làm hoặc chấm dứt HĐLĐ được hưởng bảo hiểm thất nghiệp và trợ cấp thất nghiệp (do quỹ bảo hiểm thất nghiệp chi trả) khi đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Ðiều 15 Nghị định 127/2008/NÐ-CP.

Trường hợp của bạn, nếu chưa tham gia bảo hiểm thất nghiệp cho đến ngày nghỉ việc thì bạn vẫn được nhận trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm (do doanh nghiệp chi trả) đối với thời gian đã làm việc tại doanh nghiệp cho đến ngày thôi việc. Trong trường hợp bạn đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp từ ngày 1-1-2009 thì bạn vẫn được hưởng trợ cấp thôi việc (hoặc mất việc) đối với thời gian từ ngày bắt đầu làm việc cho đến ngày bắt đầu tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

Thời gian kể từ ngày bạn tham gia bảo hiểm thất nghiệp trở về sau, nếu đáp ứng đủ điều kiện quy định tại Điều 15 Nghị định số 127/2008/NÐ-CP nói trên, bạn sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp và sẽ do BHXH chi trả.

Trong trường hợp người sử dụng lao động không giải quyết thỏa đáng các quyền lợi liên quan, bạn có thể yêu cầu Cơ quan quản lý lao động cấp Quận/huyện can thiệp giải quyết hoặc khởi kiện vụ việc đến Tòa án.

Luật sư VÕ HOÀNG TUYÊN
(Văn phòng luật sư Tuyên & Associates)

Theo Tuổi trẻ

Share:

17 thg 9, 2009

Đóng BHXH cho công nhân thuê ngoài

http://www.thanglong.com.vn/data/96770.jpg

Theo khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm Xã hội năm 2006, người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Hỏi:
Chúng tôi là công ty TNHH về lĩnh vực xây dựng, có một số công trình thi công bắt buộc phải thuê lao động bên ngoài trong thời gian 4-5 tháng. Nếu chúng tôi thỏa thuận trong hợp đồng lao động thuê ngoài có tính thêm BHXH vào lương cho người lao động nên không đóng BHXH nữa vì những lao động này làm hết 5 tháng là nghỉ. Chúng tôi có vi phạm Luật lao động không?

Trả lời:
Theo khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm Xã hội năm 2006, người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Như vậy, trong trường hợp này, vì người lao động làm việc có thời hạn tại công ty từ 4 đến 5 tháng nên công ty phải có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động.

(Theo molisa.gov.vn)
Share:

Khi người sử dụng lao động đơn phương chất dứt HĐLĐ


http://www.phapluattp.vn/img/31-12-2008/3-BH.jpg

Theo khoản 3 Điều 37 Bộ luật Lao động năm 1994, được sửa đổi bổ sung năm 2002, người lao động làm việc theo hợp đồng không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, và phải báo trước cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày


Hỏi:
Tôi đã ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với công ty, nay xin chấm dứt hợp đồng lao động và có báo trước 45 ngày. Vậy tôi có được hưởng trợ cấp thôi việc không? Trong trường hợp người sử dụng lao động muốn đơn phương chất dứt hợp đồng lao động với người lao động thì phải cần những thủ tục gì?

Trả lời:

Theo khoản 3 Điều 37 Bộ luật Lao động năm 1994, được sửa đổi bổ sung năm 2002, người lao động làm việc theo hợp đồng không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, và phải báo trước cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày. Trường hợp của bạn đã chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật và theo quy định tại khoản 1, Điều 42 Bộ luật Lao động, công ty có nghĩa vụ trả trợ cấp thôi việc cho bạn, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng phụ cấp lương (nếu có). Cũng theo quy định của Bộ luật Lao động, để đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải thực hiện đầy đủ các thủ tục sau: 1. Phải có lí do chấm dứt hợp đồng được quy định tại khoản 1 Điều 38 và không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp quy định tại Điều 39. 2. Trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp thuộc điểm a, b và c khoản 1 Điều 38, người sử dụng lao động phải trao đổi, nhất trí với Ban Chấp hành công đoàn cơ sở. Trường hợp không nhất trí, hai bên phải báo cáo với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Sau 30 ngày, kể từ ngày báo cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động địa phương biết, người sử dụng lao động mới có quyền quyết định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. 3. Đảm bảo thời hạn báo trước: Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, trừ trường hợp sa thải theo Điều 85, người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn; ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng và ít nhất 3 ngày đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

(Theo molisa.gov.vn)

Share:

Các thắc mắc thường gặp về BHXH

http://www.nghebao.com/BC/uploads/News/pic/nvn_1196311426.bmp
Câu hỏi về BHXH Bắt buộc.

Mức lương làm căn cứ đóng BHXH, BHYT?

Trả lời: Mức lương làm cơ sở đóng BHXH là tổng mức tiền lương, tiền công (bao gồm các loại phụ cấp có tính chất như lương) ghi trên hợp đồng lao động. Tiền lương và phụ cấp nói trên phải thực hiện theo đúng thang, bảng lương mà doanh nghiệp đã xây dựng và đăng ký với cơ quan lao động địa phương.

Giám đốc, chủ tịch hội đồng quản trị doanh nghiệp tư nhân có bắt buộc phải đóng BHXH,BHYT hay không?

Trả lời: Căn cứ Quyết định 902/QĐ-BHXH ngày 26/06/2007 của BHXH Việt Nam ”Tiền lương, tiền công để tính đóng BHXH, BHYT của người quản lý doanh nghiệp là chủ sở hữu, Giám đốc doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh công ty hợp danh, Chủ tịch hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, thành viên hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng và kiểm soát viên là mức tiền lương do Điều lệ của Công ty quy định nhưng phải được đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về lao động tỉnh, thành phố”.

Thời gian thử việc có đóng BHXH, BHYT không?

Trả lời: Thời gian thử việc (tối đa là 2 tháng) được thực hiện trên cơ sở “hợp đồng thử việc” chứ chưa phải là thời gian làm việc chính thức theo HĐLĐ, nên không thuộc diện đóng BHXH, BHYT.

Trong thời gian nghỉ sinh có phải đóng tiền BHXH, BHYT hay không?

Trả lời: Thời gian nghỉ thai sản không đóng BHXH, chỉ đóng BHYT. Về nguyên tắc, Người lao động phải tự đóng 3%, nhưng nhà nước khuyến khích Người sử dụng lao động đóng thay cho người lao động trong những trường hợp này.

Trong thời gian NLĐ nghỉ việc không lương, cty có phải đóng BHXH, BHYT không? có phải báo giảm lao động và thu lại thẻ BHYT không?

Trả lời: Thời gian NLĐ nghỉ không lương không thuộc diện đóng BHXH, BHYT. Do đó, đơn vị phải báo giảm lao động tham gia BHXH và trả lại thẻ BHYT. Trường hợp không trả thẻ thì phải nộp bổ sung giá trị thẻ còn lại.

Doanh nghiệp có bao nhiêu người lao động trở lên thì phải đăng ký đóng bảo hiểm xã hội?

Trả lời: Pháp luật BHXH hiện hành quy định: mọi cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có sử dụng lao động làm việc theo HĐLĐ từ 3 tháng trở lên đều thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, không phân biệt số lượng lao động sử dụng là bao nhiêu người.

Ký HĐLĐ với người đã hưởng lương hưu có phải đóng BHXH, BHYT không?

Trả lời: Người lao động đã hưởng lương hưu từ quỹ BHXH khi tiếp tục ký hợp đồng lao động thì doanh nghiệp không phải đóng BHXH, BHYT mà trả khoản chi phí (17% tiền lương thuộc nghĩa vụ doanh nghiệp) vào lương cho người lao động.

Trong công ty có một nhân viên làm việc cùng một lúc cho 2 nơi, xin hỏi viên này sẽ đóng BHXH và BHYT như thế nào?

Trả lời: Theo qui định hiện hành người lao động làm việc tại nhiều nơi thì chỉ chọn 1 nơi để tham gia BHXH. Các nơi còn lại trả vào lương cho người lao động phần nghĩa vụ BHXH, BHYT của đơn vị.

Đơn vị tôi đã làm thủ tục cấp sổ BHXH cho người lao động, nay người lao động cung cấp sổ BHXH cũ. Như vậy người lao động có 2 sổ, đơn vị tôi phải làm thủ tục gì?

Trả lời: Theo quy định mỗi người lao động chỉ được cấp 1 quyển sổ BHXH. Đơn vị bạn cần lập công văn giải trình (kèm theo 2 quyển sổ BHXH của NLĐ) để cơ quan BHXH lập thủ tục chuyển 2 sổ thành 1 theo quy định. Sổ BHXH được cấp đầu tiên sẽ được giữ lại để đóng và ghi nhận quá trình tham gia BHXH.

Đơn vị tôi chuyển địa bàn sang quận khác cần lập thủ tục gì?

Trả lời:

- Khi một đơn vị sử dụng lao động chuyển sang hoạt động tại địa bàn khác, cơ quan BHXH đang quản lý có trách nhiệm giải quyết hết công nợ về số thu BHXH, BHYT với đơn vị, sau đó xác nhận và chốt sổ BHXH cho người lao động đến thời điểm di chuyển.

Khi thực hiện chốt sổ, nếu phát hiện sai sót thì phải hướng dẫn đơn vị bổ sung, điều chỉnh lại cho đúng để đãm bảo thu đúng, chốt sổ đúng cho người lao động. Trên cơ sở đó lập biên bản để tất toán số thu cho đơn vị.

- Trường hợp đơn vị đề nghị chuyển số nợ sang thực hiện tại cơ quan BHXH nơi đến, thì phải có văn bản chính thức, có ý kiến xác nhận của cơ quan BHXH nơi đến. Cơ quan BHXH nơi đi có trách nhiệm lập văn bản xác định số tiền nợ của đơn vị để chuyển cho cơ quan BHXH nơi đến thực hiện.

- Riêng trường hợp đơn vị sau khi đã chốt sổ BHXH chuyển đi có những sai sót cần điều chỉnh bổ sung thì đơn vị lập thủ tục và điều chỉnh bổ sung tại BHXH quận, huyện nơi đến.

- Khi di chuyển ra khỏi địa bàn cũ, nếu thẻ BHYT của NLĐ vẫn còn giá trị sử dụng thì vẫn tiếp tục được sử dụng. Cơ quan BHXH nơi đến thu đủ 23% nhưng không phải cấp lại thẻ cho đến khi thẻ cũ hết giá trị sử dụng. Cơ quan BHXH nơi đi có trách nhiệm cung cấp danh sách NLĐ được cấp thẻ BHYT cho cơ quan BHXH nơi đến để theo dõi, quản lý.

Thủ tục đăng ký mới xem tại phần thủ tục tham gia BHXH bắt buộc tại trang web này.

Tôi năm nay 60 tuổi, đã đóng BHXH được 14 năm, vậy tôi có thể đóng tiếp để đủ chế độ hưởng lương hưu không?

Trả lời: Nếu bạn tiếp tục làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên thì vẫn thuộc diện đóng BHXH, BHYT bắt buộc. Khi có thời gian tham gia BHXH đủ 20 năm thì hưởng chế độ hưu trí.

Tôi đã đến tuổi nghỉ hưu đã nghỉ việc nhưng đóng còn thiếu 2 năm mới được 20 năm thì phải làm sao?

Trả lời: Bạn có thể đóng BHXH tự nguyện thêm 2 năm nữa để được giải quyết chế độ hưu theo quy định.

Năm nay tôi đến tuổi về hưu - nữ 55 tuổi , nhưng quá trình tham gia bảo hiểm của tôi cho công ty này là 12 năm 4 tháng. Tôi xin hỏi có luật nào cho phép người lao động tự nguyện đóng (một lần) thêm tiền bảo hiểm để có đủ thời gian 20 năm?

Trả lời: Trả lời: Hiện nay không có quy định nào giải quyết vấn đề bạn nêu; Tuy nhiên, nếu công ty của bạn vẫn tiếp tục ký HĐLĐ với bạn thì bạn vẫn có thể được tham gia BHXH đến khi có đủ 20 năm để được hưởng chế độ hưu trí.

Cty em ghi tờ khai bảo hiểm cho người lao động theo chứng minh nhân cũ, bây giờ người lao động đổi chứng minh mới vậy sau này có ảnh hưởng gì đến các thủ tục giải quyết các chế độ không? ví dụ như trợ cấp bhxh 1 lần.

Trả lời: Số CMND, địa chỉ thường trú là những yếu tố liên quan nhân thân người lao động tại thời điểm khai và lập sổ BHXH, những yếu tố trên nếu sau này có thay đổi thì không cần lập lại sổ BHXH mới và cũng không ảnh hưởng đến việc giải quyết chế độ chính sách.

(theo bhxhtphcm.gov.vn)
Share:

15 thg 9, 2009

Nhận BHXH 1 lần khi xuất cảnh

http://tintuc.congdulich.com/compiler/upload/thutuc/1/1218766031.jpg
[Câu hỏi của : LÊ XUÂN AN Email: lepham225@yahoo.com 24.7.2009 15:21]

Chào BHXH ĐỒNG NAI!Xin BH cho tôi hỏi: Chị tôi xin nghỉ việc theo đúng quy định của pháp luật để đi định cư ở MỸ theo dạng đính hôn,chị tôi làm việc tai 1 công ty giày được 14 năm, nay chị tôi muốn lãnh bảo hiểm 1 lần thì cần làm những thủ tục gì và thời gian bao lâu chị tôi mới lãnh được tiền bảo hiểm? Hiện nay chị tôi đã xuất cảnh và đã làm thủ tục kết hôn tại Mỹ, Chị tôi có làm giấy ủy quyền lại cho tôi có xác nhận của địa phương để làm thủ tục bảo hiểm.Tôi xin chân thành cảm ơn bảo hiểm!


Trả lời!
(4.8.2009 9:28)
  1. Theo điều 55, Luật Bảo hiểm xã hội, sau 1 năm (12 tháng ) từ ngày người lao động nghỉ việc, nếu không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội và có yêu cầu nhận tiền bảo hiểm xã hội một lần, có thể liên hệ đến cơ quan Bảo hiểm xã hội huyện, Thị xã, nơi có hộ khẩu cư trú để nộp hồ sơ.

Nếu chị bạn được xuất cảnh định cư hợp pháp ở nước ngoài thì được giải quyết ngay, không phải chờ sau 12 tháng.

Hồ sơ gồm :

- Sổ bảo hiểm xã hội (đã bảo lưu thời gian đóng BHXH)

- Quyết định nghỉ việc hoặc văn bản chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng lao động hết hạn

- Đơn đề nghị lĩnh trợ cấp 1 lần (theo mẫu)

- Bản sao các giấy tờ có liên quan đến việc được xuất cảnh định cư hợp pháp ở nước ngoài.

  1. Chị bạn có thể ủy quyền cho bạn ; Mẫu giấy ủy quyền xin ở nơi nộp hồ sơ lĩnh trợ cấp BHXH 1 lần và thực hiện theo hướng dẫn.
(Theo bhxhdongnai)
Share:

29 thg 7, 2008

Trường hợp nào được hưởng nguyên lương hưu khi nghỉ hưu trước tuổi?

Tôi sinh tháng 2-1957, đi làm từ tháng 6-1978 đến nay vừa tròn 30 năm công tác. Từ tháng 6-1978 đến tháng 3-1994, tôi làm việc tại phân xưởng mạ thuộc Nhà máy cơ khí Hòn Gai. Từ tháng 4-1994 đến nay tôi làm việc tại tổ vệ sinh thuộc Ban quản lý chợ Hạ Long 2.

Tại hai nơi làm việc nói trên, hằng tháng tôi vẫn được hưởng phụ cấp độc hại nhưng trong sổ bảo hiểm xã hội (BHXH) của tôi không thể hiện điều đó. Nay do sức khỏe suy giảm nên tôi muốn xin về hưu trước tuổi, vậy tôi có được hưởng nguyên lương hưu của mình không hay bị trừ phần trăm do chưa đủ tuổi?

Ðào Hồng Thái (Quảng Ninh)


- Tư vấn của Việc làm Online:

Theo qui định tại khoản 1 điều 50 Luật BHXH, người lao động qui định tại các điểm a, b, c và e khoản 1 điều 2 của luật này (người lao động làm việc theo hợp đồng lao động (HĐLĐ) không xác định thời hạn, HĐLĐ xác định thời hạn từ đủ ba tháng trở lên; cán bộ công chức; công nhân quốc phòng, công nhân công an; người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng BHXH bắt buộc) có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên được hưởng lương hưu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi; nam từ đủ 55 tuổi đến đủ 60 tuổi, nữ từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi và có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ LĐ-TB&XH và Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên. Tuổi đời hưởng lương hưu một số trường hợp đặc biệt khác do Chính phủ qui định.

Theo qui định tại điều 51 Luật BHXH, người lao động qui định tại các điểm a, b, c, d và e khoản 1 điều 2 của Luật BHXH (người lao động làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn, HĐLĐ xác định thời hạn từ đủ ba tháng trở lên; cán bộ công chức; công nhân quốc phòng, công nhân công an; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân; người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng BHXH bắt buộc) đã đóng BHXH đủ 20 năm trở lên, bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, hưởng lương hưu với mức thấp hơn so với lương hưu qui định tại điều 50 luật này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: Nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi trở lên; có đủ 15 trở lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ LĐ-TB&XH và Bộ Y tế ban hành.

Theo qui định tại điều 52 Luật BHXH, mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện tại điều 50 của luật này được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH tương ứng với 15đóng BHXH, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%.

Theo qui định tại điều 55 và 56 Luật BHXH, người lao động suy giảm khả năng lao động theo qui định tại điều 51 luật này được hưởng trả BHXH một lần; mức hưởng BHXH một lần được tính theo số năm đã đóng BHXH, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH.

Trường hợp của bạn sinh vào tháng 2-1957, tính đến tháng 6-2008 là hơn 51 tuổi, nếu bạn là lao động nữ, đã đóng BHXH được 30 năm tương ứng với 30 năm làm nghề độc hại thì bạn đã đủ tuổi nghỉ hưu và đủ thời gian đóng BHXH, do đó bạn được hưởng lương hưu hằng tháng; nếu bạn là lao động nam thì tuy bạn đủ thời gian đóng BHXH nhưng chưa đủ tuổi nghỉ hưu. Vì vậy để được nghỉ hưu trước tuổi, bạn phải đi giám định mức suy giảm khả năng lao động. Nếu mức suy giảm từ 61% trở lên thì bạn được nghỉ hưu sớm và được trả BHXH một lần như đã nêu trên.

LS VÕ HOÀNG TUYÊN
(theo www3.tuoitre.com.vn)
Share:

Có được hưởng chế độ thai sản khi sinh con ở nước ngoài?

Tôi mang thai tháng thứ 9 và đang ở nước ngoài chờ sinh. Phòng nhân sự công ty tôi (ở Việt Nam) thông báo tôi chỉ được nghỉ thai sản 4 tháng mà không được hưởng bất cứ khoản tiền nào của chế độ thai sản như các nhân viên nữ khác, với lý do tôi sinh con ở nước ngoài nên không có giấy chứng sinh của bệnh viện.

Tôi có trả lời rằng chắc chắn tôi sẽ lấy được giấy chứng sinh, nhưng công ty vẫn nói tôi sẽ không được nhận khoản tiền thai sản. Mong quý báo giải thích giúp về trường hợp của tôi. Nếu luật lao động Việt Nam cho phép tôi được hưởng trợ cấp thai sản, tôi phải tiến hành các thủ tục pháp lý nào để bảo vệ quyền lợi của mình?

(Võ Ngọc Phượng)

- Tư vấn của Việc Làm Online:

Theo quy định tại Điều 28 Luật BHXH, nếu bạn đã đóng BHXH từ đủ sáu tháng trở lên trong thời gian mười hai tháng trước khi sinh con,̀ bạn sẽ được hưởng đầy đủ các chế độ về thai sản theo quy định của pháp luật lao động và Luật BHXH mà không phụ thuộc vào việc bạn sinh con ở Việt Nam hay ở nước ngoài.

Để được hưởng chế độ thai sản, theo quy định của Luật BHXH, bạn cần chuẩn bị hồ sơ theo quy định tại Điều 113 Luật BHXH, bao gồm: Sổ BHXH; Bản sao giấy chứng sinh hoặc bản sao giấy khai sinh của con (trường hợp bạn đi khám thai phải có giấy xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền).

Khoản 4 Điều 113 Luật BHXH quy định danh sách người hưởng chế độ thai sản do người sử dụng lao động lập. Vì vậy nếu công ty bạn không chịu lập danh sách để bạn được chế độ thai sản từ BHXH, bạn có quyền khởi kiện ra Tòa án nơi công ty đóng trụ sở yêu cầu buộc công ty phải lập danh sách để bạn được hưởng chế độ thai sản từ BHXH.

Luật sư NGUYỄN VĂN HẬU
(Theo www3.tuoitre.com.vn)
Share:

1 thg 7, 2008

Rút lại sổ bảo hiểm xã hội?

TTO - Trước đây tôi có làm việc tại một công ty cổ phần phần mềm ở Tân Bình (từ tháng 6-2006 đến hết tháng 2-2007). Tháng 3-2007, tôi không làm việc tại công ty này nữa mà chuyển sang một công ty khác làm việc.

Tôi có yêu cầu ban lãnh đạo công ty cũ hoàn thành việc đóng bảo hiểm cho tôi để tôi rút sổ bảo hiểm xã hội (BHXH) về và chuyển sổ BHXH sang công ty mới. Thế nhưng đến nay tôi vẫn chưa nhận được sổ BHXH.


Liên hệ với lãnh đạo công ty cũ, công ty trả lời cơ quan BHXH quận không cho rút sổ của tôi về vì hiện tại công ty chưa hoàn thành việc đóng BHXH cho các nhân viên. Liên hệ với cơ quan BHXH Tân Bình thì được biết trường hợp của tôi đã hoàn tất việc đóng BHXH rồi (có giấy chứng nhận của cơ quan BHXH quận), nhưng cơ quan BHXH quận vẫn không cho tôi rút sổ về với lý do công ty cũ chưa hoàn thành việc đóng BHXH cho những nhân viên khác.

Xin hỏi việc giữ sổ bảo hiểm của tôi như vậy là đúng luật không? Tôi phải làm gì để có thể lấy lại sổ BHXH? (buiquocdung85)

- Trả lời của luật sư Nguyễn Văn Hậu:

Theo quy định của Khoản 1 Điều 109 Luật BHXH thì: “Sổ BHXH được cấp đối với từng người lao động để theo dõi việc đóng, hưởng các chế độ BHXH và là cơ sở để giải quyết các chế độ của BHXH...”.

Điểm c Khoản 1 Điều 18 Luật BHXH có quy định một trong những trách nhiệm của người sử dụng lao động là phải “trả sổ BHXH cho người lao động khi người đó không còn làm việc”.

Ngoài ra tại Điểm b Khoản 4 Điều 7 Nghị định 152/2006/NĐ-CP ngày 22-12-2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc thì hành vi “không cấp sổ BHXH hoặc không trả sổ BHXH cho người lao động theo quy định” là hành vi bị nghiêm cấm.

Do vậy công ty cũ của bạn và cơ quan BHXH quận Tân Bình không chịu trả sổ BHXH cho bạn là hành vi vi phạm pháp luật. Việc công ty cũ của bạn chưa hoàn thành việc đóng BHXH cho người lao động là không đúng pháp luật nhưng cơ quan BHXH Tân Bình không được viện dẫn lý do này để không chịu trả sổ BHXH cho bạn, xâm phạm đến lợi ích chính đáng của bạn.

Để bảo đảm quyền lợi của mình, bạn có thể làm đơn khiếu nại gửi đến lãnh đạo công ty cũ và thủ trưởng cơ quan BHXH Tân Bình về hành vi giữ sổ BHXH của bạn trái luật. Nếu bạn không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại lần đầu không được giải quyết thì bạn có quyền khiếu nại đến Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội hoặc khởi kiện tại Tòa án (Điều 56 Nghị định 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ).

Luật sư NGUYỄN VĂN HẬU
(theo www3.tuoitre.com.vn, 18/08/2007)
Share:

27 thg 6, 2008

Thắc mắc về lao động-việc làm và BHXH


Hỏi: Công ty nơi tôi công tác mới thực hiện cổ phần hoá từ DNNN và được cấp giấy phép đăng ký kinh doanh từ tháng 4/2007 và hiện đang thực hiện sắp xếp, bố trí lại lao động. Vậy người lao động dôi dư ở công ty được thực hiện theo chế độ nào? Theo nghị định 155/2004/NĐ-CP hay nghị định 110/2007/NĐ-CP? Bản thân tôi đã đóng BHXH 31 năm, nhưng tuổi đời mới 48, cơ quan làm ăn thua lỗ, nếu bây giờ tôi viết đơn xin nghỉ hưu mà không phải ra hội đồng y khoa, vậy có được hưởng lương hưu bằng 75% mức lương hàng tháng không? Tôi có bị trừ 1% cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi không? (Nguyễn Thị Hồng, Ngõ 198, Cầu Giấy, Hà Nội)

Trả lời:
Căn cứ vào điểm a, khoản 1, Điều 1, Nghị định số 110/2007/NĐ-CP ngày 26-6-2007 của Chính phủ về chính sách đối với người lao động dôi dư do sắp xếp lại công ty nhà nước thì người lao động dôi dư của công ty nhà nước được cổ phần hóa được thực hiện theo quy định của Nghị định 110/2007/NĐ-CP.
Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 12 Nghị định 110/2007/NĐ-CP thì trong trường hợp công ty của bạn được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt phương án lao động dôi dư từ ngày 1-1-2007 đến trước ngày Nghị định 110/2007/NĐ-CP có hiệu lực thi hành (1-8-2007) thì thực hiện theo Nghị quyết số 07/2007/NQ-CP ngày 6-2-2007 tại phiên họp thường kỳ của Chính phủ tháng 1-2007 .
Theo đó, người lao động dôi dư do sắp xếp lại công ty nhà nước được thực hiện theo quy định tại Nghị định 41/2002/NĐ-CP ngày 11-4-2002 và được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 155/2004/NĐ-CP ngày 10-8-2004.
Mặc dù bạn đã có 31 năm đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) nhưng bạn chưa đủ tuổi để hưởng lương hưu theo quy định của Điều 50 Luật BHXH nên chưa được hưởng lương hưu hàng tháng nếu nghỉ việc vào thời gian này. Nếu bạn bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên theo quy định tại Điều 51 Luật BHXH thì được hưởng mức lương hưu hàng tháng với mức tối đa bằng 75% nhưng mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi bị giảm 1% (nếu bạn 48 tuổi, thấp hơn quy định hiện hành 7 tuổi thì bị trừ 7%). Trường hợp bạn không bị suy giảm khả lao động mà vẫn muốn nghỉ việc thì bạn có thể lĩnh trợ cấp một lần (mỗi năm đóng BHXH được trợ cấp bằng một tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH) hoặc chờ đủ tuổi để hưởng chế độ lương hưu hàng tháng. Trong trường hợp chờ, bạn phải có đơn tự nguyện chờ giải quyết chế độ hưu trí, có xác nhận của công đoàn và người đứng đầu doanh nghiệp. Sau đó, giám đốc doanh nghiệp phải lập số hồ sơ như người về hưu gửi đến cơ quan BHXH quản lý theo dõi, giải quyết chế độ hưu trí hàng tháng khi đủ điều kiện về tuổi đời.

Hỏi: Theo quy định của Bộ luật Lao động, khi gặp khó khăn đột xuất hoặc do nhu cầu sản xuất, kinh doanh, người sử dụng lao động được quyền tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác trái nghề, nhưng không được quá 60 ngày trong một năm. Vậy xin hỏi: Chuyển từ kế toán sang làm hành chính, thì có phải là trái nghề không? Nếu công ty muốn chuyển hẳn nhân viên kế toán sang làm hành chính dài hạn, thì có trái pháp luật?
Lê Văn Nam (Khu Công nghiệp Phố Nối A, Hưng Yên)
Trả lời: 1. Công việc khác trái nghề được hiểu là công việc khác với công việc chuyên môn mà người lao động đang đảm nhiệm. Do vậy, việc chuyển người lao động đang làm công việc kế toán sang công việc hành chính được coi là chuyển người lao động sang làm công việc khác trái nghề.
2. Trường hợp công ty muốn chuyển hẳn nhân viên kế toán sang làm công việc hành chính, thì phải được sự đồng ý của người lao động. Nếu người lao động không chấp thuận mà họ phải ngừng việc thì người đó sẽ được người sử dụng lao động trả đủ tiền lương (khoản 1 Điều 62 Bộ luật Lao động; khoản 2 Điều 9 Nghị định 44/2003/NĐ-CP ngày 9/5/2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động).

Hỏi: Tôi đã ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với công ty, nay xin chấm dứt hợp đồng lao động và có báo trước 45 ngày. Vậy tôi có được hưởng trợ cấp thôi việckhông? Trong trường hợp người sử dụng lao động muốn đơn phương chất dứt hợp đồng lao động với người lao động thì phải cần những thủ tục gì?
Trần Đức Chính (Phường Thượng Lý, quận Hồng Bàng, Hải Phòng)
Trả lời: Theo khoản 3 Điều 37 Bộ luật Lao động năm 1994, được sửa đổi bổ sung năm 2002, người lao động làm việc theo hợp đồng không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, và phải báo trước cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày.
Trường hợp của bạn đã chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật và theo quy định tại khoản 1, Điều 42 Bộ luật Lao động, công ty có nghĩa vụ trả trợ cấp thôi việc cho bạn, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng phụ cấp lương (nếu có).
Cũng theo quy định của Bộ luật Lao động, để đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải thực hiện đầy đủ các thủ tục sau:
1. Phải có lí do chấm dứt hợp đồng được quy định tại khoản 1 Điều 38 và không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp quy định tại Điều 39.
2. Trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp thuộc điểm a, b và c khoản 1 Điều 38, người sử dụng lao động phải trao đổi, nhất trí với Ban Chấp hành công đoàn cơ sở. Trường hợp không nhất trí, hai bên phải báo cáo với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Sau 30 ngày, kể từ ngày báo cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động địa phương biết, người sử dụng lao động mới có quyền quyết định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
3. Đảm bảo thời hạn báo trước: Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, trừ trường hợp sa thải theo Điều 85, người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn; ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng và ít nhất 3 ngày đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

Hỏi: Chúng tôi là công ty TNHH về lĩnh vực xây dựng, có một số công trình thi công bắt buộc phải thuê lao động bên ngoài trong thời gian 4-5 tháng. Nếu chúng tôi thỏa thuận trong hợp đồng lao động thuê ngoài có tính thêm BHXH vào lương cho người lao động nên không đóng BHXH nữa vì những lao động này làm hết 5 tháng là nghỉ. Chúng tôi có vi phạm Luật lao động không?
(Công ty TNHH Thịnh Phát)
Trả lời: Theo khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm Xã hội năm 2006, người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Như vậy, trong trường hợp này, vì người lao động làm việc có thời hạn tại công ty từ 4 đến 5 tháng nên công ty phải có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động.

Hỏi: Thời gian làm việc theo quy định là 8 giờ/ngày có bao gồm thời gian nghỉ trưa không? Công ty tôi làm việc từ 7h30 đến 5h30 có đúng quy định không?
Phạm Văn Mạnh (Nhà K2, Nguyễn Phong Sắc, Cầu Giấy, Hà Nội)
Trả lời: Điều 71 Bộ luật Lao động năm 1994, được sửa đổi bổ sung năm 2002 quy định: "Người lao động làm việc 8 giờ liên tục thì được nghỉ ít nhất nửa giờ, tính vào giờ làm việc". Như vậy, thời gian làm việc 8h/ ngày bao gồm cả thời gian nghỉ của trưa của gười lao động.
Cũng theo quy định của Bộ luật lao động "Thời giờ làm việc của người lao động không quá 8 giờ trong một ngày hoặc 48 giờ trong 1 tuần. Người sử dụng lao động có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc theo tuần nhưng phải thông báo cho người lao động biết" (Khoản 1 Điều 68). Trường hợp công ty bạn làm việc từ 7h30 đến 5h30 (làm việc 10 giờ một ngày) và không cho người lao động nghỉ ít nhất nửa giờ tính vào giờ làm việc là không phù hợp với quy định của pháp luật lao động.

Hỏi: Mức lương thấp nhất Chính phủ quy định để chi trả cho lao động nữ theo Điều 34 Luật Bảo hiểm Xã hội hiện tại là bao nhiêu?
Phan Đình Trường (Phường 10, Quận 3, TP.Hồ Chí Minh)
Trả lời: Mức lương tối thiểu chung theo quy định tại điều 34 Luật Bảo hiểm Xã hội là mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định tại từng thời điểm.
Theo quy định tại Nghị định số 94/2006/NĐ-CP của Chính phủ về việc điều chỉnh mức lương tối thiểu chung thì mức lương tối thiểu hiện nay đang áp dụng đối với người lao động làm việc cho các doanh nghiệp trong nước là 450.000 đồng/tháng.
Mức lương tối thiểu chung đối với lao động làm việc cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức nước ngoài áp dụng theo quy định tại Nghị định số 03/2006/NĐ-CP. Theo Nghị định này, kể từ ngày 01/02/2006, mức 870.000 đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn các quận thuộc thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, mức 790.000 đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn các huyện thuộc thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, các quận thuộc thành phố Hải Phòng, thành phố Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh, thành phố Biên Hòa thuộc tỉnh Đồng Nai, thành phố Vũng Tàu thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, thị xã Thủ Dầu Một và các huyện Thuận An, Dĩ An, Bến Cát và Tân Uyên thuộc tỉnh Bình Dương, Mức 710.000 đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên các địa bàn còn lại...
Các mức lương tối thiểu trên sẽ thay đổi trong thời gian tới khi Chính phủ điều chỉnh tiền lương tối thiểu trong các doanh nghiệp.

Hỏi: Tôi làm việc tại một doanh nghiệp mà giám đốc bắt buộc công nhân làm thêm giờ (từ 7h đến 9 giờ đêm), nếu công nhân không chịu làm thì bị nghỉ việc. Như vậy công ty có vi phạm pháp luật không?
Đặng Minh Hồng (Khu Công nghiệp Sóng Thần, Bình Dương)
Trả lời: Theo quy định tại Khoản 1, Điều 68 Bộ luật Lao động thì thời giờ làm việc không quá 8 giờ trong một ngày hoặc 48 giờ trong một tuần. Người lao động và người sử dụng lao động có thể thoả thuận làm việc thêm giờ nhưng thời gian làm thêm không được quá 4 giờ trong một ngày và 200 giờ trong một năm (Điều 69 Bộ luật Lao động). Người sử dụng lao động phải trả lương làm thêm giờ cho người lao động theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương của công việc đang làm theo quy định của pháp luật lao động.
Như vậy, trong trường hợp bạn hỏi, nếu công ty bắt công nhân làm thêm (không có sự đồng ý của người lao động) hoặc có sự đồng ý của người lao động nhưng số giờ làm thêm vượt quá tổng số giờ theo Điều 69 Bộ luật Lao động nêu trên thì sẽ bị coi là vi phạm pháp luật lao động.

(Theo molisa.gov.vn, 30/11/2007)

Share:

23 thg 6, 2008

Thắc mắc về bảo hiểm xã hội: Bảo hiểm xã hội tự nguyện

Hỏi: Tôi có thời gian tham gia BHXH được 15 năm 10 tháng, nay tôi đã 60 tuổi (đủ tuổi nghỉ hưu), nhưng vì chưa đủ thời gian 20 năm tham gia BHXH, nên tôi không được nhận chế độ hưu trí. Tôi muốn tham gia BHXH tự nguyện, xin cho biết thủ tục, mức đóng BHXH tự nguyện và tỷ lệ phần trăm mức lương hưu được hưởng. (Trần Thanh Liêm - 184/3/6/B1 Nguyễn Xí, P.26, Q.Bình Thạnh, TP.HCM)




Trả lời:

Thưa ông, vấn đề ông hỏi được ông Cao Văn Sang - Giám đốc Bảo hiểm xã hội TP.HCM trả lời như sau:

Điểm 3, Điều 70 Luật BHXH quy định đối tượng đóng BHXH tự nguyện: Trường hợp nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi nhưng thời gian đóng BHXH còn thiếu không quá 5 năm so với thời gian quy định đủ điều kiện nhận chế độ hưu trí (đóng đủ 20 năm), thì được đóng tiếp cho đến khi đủ 20 năm. Theo quy định trên, ông có thời gian tham gia BHXH trên 15 năm (15 năm 10 tháng) nên được tham gia BHXH tự nguyện thêm 4 năm 2 tháng nữa cho đủ 20 năm để nhận chế độ hưu trí.

Mức lương hưu hằng tháng được tính bằng 45% mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH tương ứng với 15 năm đóng BHXH, sau đó mỗi năm tham gia BHXH được tính thêm 2% đối với nam, 3% đối với nữ, mức tối đa bằng 75%.

Ông đóng đủ 20 năm BHXH, tỷ lệ lương hưu quy đổi bằng 55% tiền lương làm cơ sở tính lương hưu (15 năm đầu là 45% + 5 năm sau là 10% = 55%).

Về mức đóng hằng tháng - quy định ở Điều 100 - Luật BHXH: Bằng 16% mức thu nhập người lao động tự lựa chọn đóng BHXH; từ năm 2010 trở đi, cứ 2 năm một lần tăng thêm 2% cho đến khi đạt mức 22%.

Mức thu nhập làm cơ sở để tính đóng BHXH được thay đổi tùy theo khả năng của người lao động ở từng thời kỳ, nhưng thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung và cao nhất bằng hai mươi tháng lương tối thiểu chung.

Sau thời gian đóng đủ 20 năm, ông liên hệ làm thủ tục hưởng lương hưu tại BHXH quận, huyện nơi ông cư trú.

Hiện nay, BHXH Việt Nam chưa tổ chức thu BHXH tự nguyện nên chưa thể trả lời cho ông về thủ tục nộp BHXH tự nguyện được.

BHXH đối với người làm việc trong môi trường độc hại

(Theo sannghenghiep.vn, 23/6/2008)
Share:

19 thg 6, 2008

Hỏi-đáp về BHXH, BHYT

Những thắc mắc về chế độ BHXH, BHYT sẽ được các cơ quan chức năng trả lời cụ thể:

Hỏi: Ngày 19/12/2007 Bảo hiểm xã hội ( BHXH) tỉnh Gia Lai nhận được công văn số 4149-NC-BĐ/ ND của Ban bạn đọc Báo Nhân dân chuyển đơn của bà Đoàn Thị Mai ở tổ 11, thị trấn Kbang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai khiếu nại về chế độ chính sách của chồng bà là ông Đào Xuân Vĩnh nhân viên bảo vệ rừng thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Bắc An khê, bị tai nạn ngày 21/2/2006.

Trả lời: Sau khi kiểm tra, xem xét vụ việc theo thẩm quyền Bảo hiểm xã hội Gia Lai có ý kiến như sau:

Theo quy định pháp luật BHXH hiện hành về giải quyết chế độ tai nạn lao động (TNLĐ) cho người lao động tham gia BHXH bắt buộc, trách nhiệm của người sử dụng lao động phải lập đầy đủ hồ sơ theo quy định tại Điều 12, Quy định về hồ sơ và quy trình giải quyết hưởng các chế độ BHXH đối với người lao động tham gia BHXH bắt buộc ban hành theo Quyết định số 815/QĐ-BHXH ngày 06/6/2007 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam bao gồm: Sổ BHXH; văn bản đề nghị của người sử dụng lao động; biên bản điều tra TNLĐ; giấy ra viện sau khi điều trị thương tật ổn định; biên bản giám định mức suy giảm khẳ năng lao động; bản khai quá trình đóng BHXH.

Với chức năng nhiệm vụ cơ quan thực hiện chế độ chính sách, BHXH Gia Lai đến nay chưa nhận được hồ sơ giải quyết chế độ TNLĐ của ông Đào Xuân Vĩnh do Ban quản lý rừng phòng hộ An khê chuyển đến.

BHXH Gia Lai kính báo để quý cơ quan biết .
Hỏi: Ông Phan Xuân Hùng ở Thôn 5 , xã Đăk Krong , huyện Đăk Đoa , tỉnh Gia Lai hỏi : Ông nhập ngũ tháng 5/1972 sau chuyển ngành công tác ở công ty nhà nước năm 1990 , nghỉ việc hưởng chế độ mất sức lao động đến năm 2000 . Nay bản thân tuổi cao , bệnh tật triền miên , muốn xin đi giám định để hưởng tiếp trợ cấp mất sức lao động được không ?

Trả lời:

Vấn đề ông hỏi phòng Chế độ - Chính sách trả lời như sau :

Theo hồ sơ mất sức lao động số 498971 , ông sinh năm 1951 , nghỉ hưởng từ 1/1/1990 , với thời gian công tác thực tế 17 năm 08 tháng ,quy đổi 20 năm 01 tháng , ông đã thôi hưởng trợ cấp mất sức lao động từ ngày 01/02/2000 ,với thời gian hưởng trợ cấp 10 năm 01 tháng theo Quyết định số 60/HĐBT ngày 01 /03/1990 của Hội Đồng Bộ Trưởng (nay là Chính phủ) Bảo hiểm xã hội tỉnh Gia Lai đã tiến hành thủ tục theo quy định để cắt trợ cấp mất sức lao động của ông ( Quyết định 515/BHXH , ngày 27 tháng 12 năm 1999 của Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh Gia Lai ).

Đến nay , sau thời gian cắt chế độ trợ cấp mất sức lao động đã hơn 7 năm ông mới có đơn trình bày do sức khoẻ yếu xin đi giám định để hưởng tiếp trợ cấp . Theo quy định hiện hành về chính sách chế độ bảo hiểm xã hội những trường hợp đã cắt trợ cấp mất sức lao động thì không được đặt vấn đề xem xét lại .
Hỏi: Ông Phí Ngọc Thích ở xã Đông á , huyện Đông Hưng , tỉnh Thái Bình hỏi:Trước đây tôi công tác tại Công ty xây dựng 45 thuộc Tổng Công ty xây dựng 4 - Bội Nông Nghiệp và phát triển Nông thôn . Nghỉ thôi việc từ tháng 9/2001 , đến ngày 1/12/2004 tôi mới nhận được lương hưu hàng tháng . Đề nghị cơ quan Bảo hiểm xã hội xem xét ,giải quyết cho tôi được hưởng tiền lương hưu hàng tháng trong thời gian 39 tháng ( từ tháng 9/2001 đến tháng 11/2004 ).

Trả lời:

Ngày 22/11/2004 Bảo hiểm xã hội tỉnh Gia Lai tiếp nhận hồ sơ đề nghị hưởng chế độ hưu trí hàng tháng của ông theo phiếu giao nhận hồ sơ số 09/TNHS . Căn cứ Quyết định số 162/QĐCT ngày 01/10/2004 của Công ty xây dựng 45 ông được nghỉ hưởng chế độ hưu trí từ ngày 01/12/2004 Bảo hiểm xã hội tỉnh Gia Lai có Quyết định số 500/QĐ - BHXH- CĐCS ngày 22/11/2004 giải quyết cho ông hưởng chế độ hưu trí hàng tháng kể từ ngày 01/12/2004 theo quy định tại Quyết định số 1584/1999/QĐ-BHXH ngày 24/06/1999 của Bảo hiểm xã Việt Nam về việc ban hành quy định về hồ sơ và quy trình giải quyết hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội .

Vấn đề chậm hưởng lương hưu hàng tháng , đề nghị ông liên hệ với cơ quan chủ quản để được xem xét giải quyết .

Không quy định cho những người đã hưởng chế độ mất sức

Ông Nguyễn Xuân Lam (Tiến Thủy, Quỳnh Lưu, Nghệ An) hỏi: Tôi sinh năm 1936. Năm 1958 tôi nhập ngũ. Từ đó đến năm 1978 tôi trải qua nhiều vị trí công tác, trong đó phần lớn thời gian là công tác trong quân đội. Tháng 4/1978, tôi được Bộ tư lệnh Quân khu 4 cho nghỉ hưởng chế độ mất sức bệnh binh 2/3 (tỷ lệ mất sức lao động 71%). Tôi được biết vừa qua các bộ đã có quy định về chế độ hưu trí đối với quân nhân trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ 30/4/1975 trở về trước có 20 năm trở lên phục vụ quân đội. Theo quy định này, tôi có được hưởng chế độ hưu không? Cách tính thời gian thế nào?
Trả lời:

Ngày 28/12/2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 159/2006/NĐ-CP về việc thực hiện chế độ hưu trí đối với quân nhân trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ 30/4/1975 trở về trước có 20 năm trở lên phục vụ quân đội đã phục viên, xuất ngũ.

Ngày 16/4/2007, liên Bộ: Quốc phòng - Lao động Thương binh và Xã hội - Tài chính đã có Thông tư liên tịch số 69/2007/TTLT hướng dẫn thực hiện Nghị định số 159 nêu trên. Theo đó, đối tượng áp dụng chính sách này bao gồm: Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhập ngũ từ ngày 30/4/1975 trở về trước, có đủ 20 năm trở lên phục vụ trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ trước ngày 01/4/2000, thuộc một trong các trường hợp sau:

a. Đã phục viên, xuất ngũ;

b. Thương binh bị suy giảm khả năng lao động 81% trở lên đang điều trị tại các trung tâm điều đường thương binh hoặc từ trung tâm điều dưỡng thương binh đã về gia đình nhưng chưa được hưởng chế độ hưu trí.

Tại Nghị định 159 cũng như Thông tư 69 đều không đề cập đến đối tượng áp dụng là quân nhân đang hưởng trợ cấp mất sức.

Về thời gian công tác để tính lương hưu, theo hướng dẫn tại Thông tư số 69:

a. Thời gian công tác có tham gia bảo hiểm xã hội và thời gian công tác được coi là thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội để làm căn cứ tính lương hưu là thời gian công tác thực tế đã được xác định trong hồ sơ phục viên, xuất ngũ hoặc hồ sơ thương binh của mỗi người.

b. Thời gian được tính kể từ ngày 31/3/2000 trở về trước, nếu có đứt quãng thì được cộng dồn; trường hợp có tháng lẻ thì dưới 3 tháng không tính, có từ đủ 3 tháng đến đủ 6 tháng tính bằng nửa (1/2) mức hưởng của một năm đóng bảo hiểm xã hội có từ trên 6 tháng đến 12 tháng được tính bằng mức hưởng của một năm đóng bảo hiểm xã hội.

Quyền lợi BHXH CỦA NLĐ tại DNNN chuyển đổi

Bạn Lê Thị Hồng Lan (Phủ Lý, Hà Nam) hỏi: Công ty tôi công tác là DNNN đang chuẩn bị cổ phần hoá. Chúng tôi được biết ngày 26//6/2007 Chính phủ đã có Nghị định số 110/2007/NĐ-CP quy định về việc giải quyết chính sách đối với người lao động dôi dư. Tuy nhiên nghị định này lại không đề cập đến việc giải quyết chế độ BHXH cho những lao động chấm dứt HĐLĐ. Xin hỏii vấn đề này được giải quyết thế nào?

Trả lời:

Hiện nay chế độ bảo hiểm xã hội đối với người lao động thực hiện theo quy định tại Luật BHXH và các văn bản hướng dẫn thi hành. Trong đó, người lao động có quyền bảo lưu thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội hoặc hưởng bảo hiểm xã hội một lần theo quy định

Cách tính bình quân tiền lương để tính chế độ cho lao động ở các doanh nghiệp cổ phần hóa

Bạn Hoàng Minh Vũ (Hà Nội) hỏi: Tôi công tác ở một DNNN nay đã chuyển sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần. Như vậy khi nghỉ hưu, cách tính mức đóng BHXH để tính hưởng chế độ có được áp dụng như đối với lao động trong khu vực Nhà nước không?
Trả lời:

Theo Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30/1/2007 của Bộ LĐTBXH hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc, NLĐ làm việc theo HĐLĐ ở các Công ty nhà nước chuyển thành Công ty cổ phần; Công ty TNHH nhà nước một thành viên; Công ty TNHH nhà nước hai thành viên trở lên, được áp dụng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH quy định tại khoản 4 Mục IV Phần B Thông tư này (như cách tính đối với NLĐ thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định và có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương này) để tính lương hưu, trợ cấp một lần khi nghỉ hưu và BHXH một lần nếu Công ty thực hiện đầy đủ các quy định dưới đây:
a) Áp dụng thang lương, bảng lương do Nhà nước quy định và đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về lao động tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo quy định tại Nghị định số 114/2002/NĐ-CP ngày 31/12/2002 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tiền lương;

b) Thực hiện chuyển xếp lương, nâng bậc, nâng ngạch lương theo quy định của Nhà nước đối với công ty nhà nước, trên cơ sở thang lương, bảng lương được áp dụng tại điểm a khoản này;

c) Đóng BHXH trên cơ sở mức lương quy định tại điểm a và điểm b khoản này.

Trường hợp Công ty không thực hiện đầy đủ các quy định trên thì NLĐ áp dụng mức bình quân tiền lương tiền công tháng đóng BHXH quy định tại khoản 6 Mục IV Phần B Thông tư này để tính hưởng BHXH. Cụ thể là:

Mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH đối với NLĐ vừa có thời gian đóng BHXH thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương do người SDLĐ quyết định = (Tổng số tiền lương tháng đóng BHXH theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định + Tổng số tiền lương; tiền công của các tháng đóng BHXH theo chế độ tiền lương do người SDLĐ quyết định) /Tổng số tháng đóng BHXH
Trong đó:

a) Tổng số tiền lương tháng đóng BHXH theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định được tính bằng tích số giữa tổng số tháng đóng BHXH theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định với mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH.
Mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH được tính theo quy định tại khoản 4 Mục này.

b) Trường hợp NLĐ có từ 2 giai đoạn trở lên thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tổng số tiền lương tháng đóng BHXH của mỗi giai đoạn được tính như quy định tại điểm a nêu trên.Tổng số tiền lương tháng đóng BHXH theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định được tính bằng tổng số tiền lương tháng đóng BHXH của các giai đoạn.

Tăng mức đóng BHXH TỪ 1/1/2010

Một số bạn đọc hỏi: Chúng tôi là những lao động đã được giải quyết chế độ theo Nghị định 41, đang độ tuổi đóng tiếp BHXH để đủ tuổi, đủ năm thì nghỉ hưu. Chúng tôi nghe nói, theo Luật BHXH thì mức đóng BHXH của chúng tôi sẽ tăng. Không biết thông tin đó có đúng không? Đề nghị Tòa soạn cho biết.

Trả lời:

Theo Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30/1/2007 của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc.

Người lao động nghỉ việc theo Nghị định số 41/2002/NĐ-CP ngày 11/9/2002 của Chính phủ có đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên, còn thiếu tối đa 5 năm thì độ tuổi nghỉ hưu và đang tự đóng tiếp bảo hiểm xã hội hằng tháng theo quy định tại khoản 7 Điều 58 Nghị định số 152/2006/NĐ-CP thì mức đóng hằng tháng của người lao động từ tháng 1/2007 đến tháng 12/2009 là 16% và từ tháng 1/2010 đến tháng 12/2011 là 18% trên mức lương tháng trước khi nghỉ việc cho đến khi đủ 60 tuổi đối với nam, 55 tuổi đối với nữ để hưởng chế độ hưu trí.

Chế độ BHYT đối với cưu chiến binh

Một số bạn đọc hỏi: Năm 2006, Chính phủ đã có quy định về chế độ BHYT đối với cựu chiến binh. Chế độ này có phải được thực hiện đối với tất cả cựu chiến binh? Quyền lợi được hưởng như thế nào?

Trả lời:

Ngày 25/7/2007, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội- Hội Cựu chiến binh Việt Nam- Bộ Tài chính- Bộ Quốc phòng đã có Thông tư liên tịch số 10/2007 hướng dẫn thực hiện một số điều Nghị định số 150/2006/NĐ-CP ngày 12/12/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điềuPháp lệnh Cựu chiến binh.

Theo thông tư này, cựu chiến binh thuộc diện nghèo theo chuẩn do Chính phủ quy định; Cựu chiến binh đã tham gia kháng chiến từ ngày 30/4/1975 trở về trước, không thuộc diện BHYT bắt buộc hoặc chưa được hưởng BHYT theo các chế độ ưu đãi khác thì được Nhà nước cấp thẻ BHYT theo quy định hiện hành;

Quyền lợi của người được hưởng chế độ BHYT thực hiện theo quy định của Điều lệ BHYT ban hành kèm theo Nghị định số 63/2005/NĐ-CP ngày 16/5/2005 của Chính phủ;

Mức đóng BHYT hàng tháng bằng 3% tiền lương tối thiểu chung do ngân sách Nhà nước đảm bảo.
Phải trả lại chế độ trợ cấp đã nhận nếu được tuyển dụng lại

Ông Hoàng Anh Vũ (Yên Bái) hỏi: Trước đây, những người lao động nghỉ theo Nghị định 41 nếu được tuyển dụng lại vào làm việc tại cơ quan cũ thì phải trả lại khoản trợ cấp đã nhận. Chúng tôi nghe nói nay Nhà nước có quy định mới về vấn đề chế độ cho lao động dôi dư; vậy quy định trên có gì thay đổi không?

Trả lời:

Ngày 26/6/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị đinh số 110/2007/NĐ-CP về chính sách đối với người lao động dôi dư do sắp xếp lại công ty nhà nước.

Theo Nghị định, người lao động dôi dư đang thực hiện hợp đồng lao động không xác định thời hạn không đủ điều kiện giải quyết chế độ hưu trí theo quy định tại nghị định này thì thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động và được hưởng các chế độ sau:

- Trợ cấp 1 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) cho mỗi năm (đủ 12 tháng, số tháng lẻ cộng dồn vào giai đoạn tiếp theo) thực tế làm việc (có đi làm, có tên trong bảng thanh toán lương) trong khu vực nhà nước (công ty 100% vốn nhà nước; cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang được hưởng lương từ ngân sách nhà nước; nông, lâm trường quốc doanh), không kể thời gian người lao động đã nhận trợ cấp thôi việc, mất việc làm, nhưng thấp nhất cũng bằng 2 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có);

- Được hỗ trợ thêm 1 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) cho mỗi năm (đủ 12 tháng, số tháng lẻ cộng dồn vào giai đoạn tiếp theo) thực tế làm việc trong khu vực nhà nước;

- Được hưởng 6 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) để đi tìm việc làm;

- Người lao động có nguyện vọng học nghề thì được đào tạo tối đa 6 tháng tại các cơ sở dạy nghề theo thông báo của cơ quan quản lý nhà nước về lao động ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Cũng theo Nghị định số 110, người lao động dôi dư đã nhận trợ cấp theo quy định trên nếu được tuyển dụng lại vào công ty, nông, lâm trường đã cho thôi việc thì phải trả lại toàn bộ số tiền đã nhận.

Trong trường hợp được tuyển dụng vào công ty, nông, lâm trường, cơ quan nhà nước khác thuộc khu vực nhà nước hoặc khi được nông, lâm trường giao đất, giao rừng thì cũng phải trả lại số tiền trợ cấp.Công ty, nông, lâm trường, cơ quan thuộc khu vực nhà nước tuyển dụng lại người lao động dôi dư hoặc nông, lâm trường giao đất, giao rừng có trách nhiệm thu lại số tiền nêu trên từ người lao động và nộp vào Quỹ Hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp.

Hạ sĩ quan, binh sĩ hưởng phụ cấp được thực hiện chế độ hưu trí

Ông Hoàng Minh Cường (Thái Nguyên) hỏi: Theo quy định hiện hành, thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự có được tính đóng BHXH để giải quyết chế độ hưu trí. Những người trước đây có đi nghĩa vụ quân sự (ví dụ trường hợp người thân của tôi nhập ngũ năm 1997, đến năm 2000 xuất ngũ thì thời gian này có được tính là thời gian tham gia BHXH để hưởng chế độ sau này không?

Trả lời:

Theo Điều lệ BHXH đối với quân nhân, công an nhân dân ban hành kèm theo Nghị định số 45/CP ngày 15/7/1995 của Chính phủ, hạ sĩ quan, binh sĩ thuộc Quân đội nhân dân; Hạ sĩ quan, chiến sĩ hưởng sinh hoạt phí thuộc Công an nhân dân trong thời gian tại ngũ được hường trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và tử tuất (đối tượng không phải đóng BHXH mà do quân đội đóng). Khi xuất ngũ, những đối tượng này được giải quyết trợ cấp xuất ngũ và thời gian tại ngũ không được tính để hưởng chế độ BHXH sau này.

Tuy nhiên kể từ ngày 1/1/2007, theo Luật BHXH, chế độ BHXH đối với những đối tượng này đã có một số thay đổi.

Theo Nghị định số 68/2007/NĐ-CP ngày 19/4/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc đối với quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân: NLĐ thuộc diện hưởng phụ cấp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 2 Luật BHXH, bao gồm: Hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dân; Hạ sĩ quan, chiến sĩ Công an nhân dân được thực hiện các chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; hưu trí và tử tuất.

Chính sách đối với lao động dôi dư

Một số bạn đọc hỏi: Chúng tôi được biết Nhà nước vừa có quy định mới về chính sách đối với lao động dôi dư. Xin hỏi, những người làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn mà thuộc diện dôi dư thì quyền lợi được giải quyết như thế nào?

Trả lời:

Ngày 26/6/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị đinh số 110/2007/NĐ-CP về chính sách đối với NLĐ dôi dư do sắp xếp lại công ty nhà nước.

Tại Điều 3 nghị định này đã quy định rõ chính sách đối với NLĐ dôi dư đang thực hiện hợp đồng lao động không xác định thời hạn, cụ thể là:

1. Tại thời điểm cơ quan có thẩm quyền phê duyệt phương án sắp xếp lao động hoặc Toà án quyết định mở thủ tục phá sản, nam từ đủ 55 tuổi, nữ từ đủ 50 tuổi và có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên thì được hưởng lương hưu theo quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật BHXH;

2. NLĐ dôi dư theo khoản 1 Điều này có tuổi đời từ đủ 55 tuổi đến dưới 60 tuổi đối với nam, từ đủ 50 tuổi đến dưới 55 tuổi đối với nữ, được hưởng thêm các khoản trợ cấp sau:

a) 3 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) cho mỗi năm (đủ 12 tháng, không kể tháng lẻ) nghỉ hưu trước tuổi so với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 50 của Luật BHXH;

b) 5 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) cho 20 năm đầu làm việc có đóng BHXH. Từ năm thứ 21 trở đi, cứ mỗi năm làm việc có đóng BHXH được trợ cấp thêm 1/2 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có)

3. Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 50 của Luật BHXH nhưng còn thiếu thời gian đóng BHXH tối đa 6 tháng để hưởng lương hưu thì được Nhà nước đóng một lần cho số tháng còn thiếu với mức đóng bằng tổng mức đóng hằng tháng của NLĐ và người sử dụng lao động theo mức tiền lương, tiên công tháng trước khi nghỉ việc vào quỹ hưu trí và tử tuất để giải quyết chế độ hưu trí.

4. Các đối tượng còn lại thì thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động và được hưởng các chế độ sau:

a) Trợ cấp 1 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) cho mỗi năm (đủ 12 tháng, số tháng lẻ cộng dồn vào giai đoạn tiếp theo) thực tế làm việc (có đi làm, có tên trong bảng thanh toán lương) trong khu vực nhà nước (công ty 100% vốn nhà nước; cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang được hưởng lương từ ngân sách nhà nước; nông, lâm trường quốc doanh), không kể thời gian NLĐ đã nhận trợ cấp thôi việc, mất việc làm, nhưng thấp nhất cũng bằng 2 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có);

b) Được hỗ trợ thêm 1 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) cho mỗi năm (đủ 12 tháng, số tháng lẻ cộng dồn vào giai đoạn tiếp theo) thực tế làm việc trong khu vực nhà nước;

c) Được hưởng 6 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) để đi tìm việc làm;d) NLĐ có nguyện vọng học nghề thì được đào tạo tối đa 6 tháng tại các cơ sở dạy nghề theo thông báo của cơ quan quản lý nhà nước về lao động ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Quyền lợi chăm sóc thai sản và sinh đẻ khi tham gia BHYT tự nguyện

Bạn Nguyễn Thùy Linh (Hà Nội) hỏi: Chị tôi có tham gia BHYT tự nguyện. Hiện nay chị tôi đang mang thai. Vậy chị tôi có được hưởng chế độ BHYT khi khám thai hay sinh đẻ không?

Trả lời:

Vì trường hợp bạn hỏi không đủ các thông tin cần thiết nên chúng tôi không đủ cơ sở để trả lời chính xác được. Tuy nhiên, bạn có thể căn cứ vào các quy định của Thông tư liên tịch số 06/2007/TTLT-BYT-BTC ngày 30/3/2007 của liên Bộ Y tế- Tài chính hướng dẫn thực hiện BHYT tự nguyện để biết người thân của mình có đủ điều kiện hưởng chế độ hay không.

Theo Thông tư liên tịch số 06 nêu trên, thẻ BHYT có giá trị sử dụng và được hưởng các quyền lợi về chăm sóc thai sản, sinh đẻ sau 270 ngày kể từ ngày đóng BHYT đối với các trường hợp tham gia BHYT tự nguyện lần đầu hoặc tham gia lại sau một thời gian gián đoạn vì bất kỳ lý do gì.

Tuy nhiên cũng theo quy định của thông tư này, trường hợp sinh đẻ tại nhà sẽ không được cơ quan BHXH thanh toán.

Mức đóng BHXH đối với những trường hợp được tự đóng tiếp

Một số bạn đọc hỏi: Chúng tôi là cán bộ chuyên trách cấp xã, nghỉ việc trước năm 2007 và được tự đóng tiếp BHXH theo quy định để đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí. Chúng tôi nghe nói khi thực hiện Luật BHXH thì mức đóng BHXH (tự đóng) của chúng tôi sẽ tăng hơn so với trước đây. Xin hỏi quy định cụ thể về việc này như thế nào?
Trả lời:
Ngày 22/12/2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 152/2006/NĐ-CP hướng dẫn một số điều của Luật BHXH. Theo quy định tại khoản 6 Điều 58 nghị định này: Cán bộ chuyên trách cấp xã khi thôi đảm nhiệm chức vụ trước ngày 1/1/2007 mà có đủ 10 năm đóng BHXH trở lên, còn thiếu tối đa 5 năm thì đủ tuổi nghỉ hưu và đang tự đóng tiếp BHXH hằng tháng với mức đóng hằng tháng bằng tổng mức đóng của người lao động và người sử dụng lao động theo mức lương tháng trước khi thôi đảm nhiệm chức vụ vào quỹ hưu trí và tử tuất cho tổ chức BHXH nơi cư trú cho đến khi đủ 15 năm đóng BHXH và đủ 60 tuổi đối với nam, đủ 55 tuổi đối với nữ thì được hưởng chế độ hưu trí.

Ngày 30/1/2007, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội đã có Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 152 nêu trên. Thông tư này đã có hướng dẫn: Cán bộ chuyên trách cấp xã đang tự đóng tiếp BHXH hằng tháng theo quy định tại khoản 6 Điều 58 Nghị định số 152/2006/NĐ-CP thì mức đóng hằng tháng từ tháng 1/2007 đến tháng 12/2009 là 16% và từ tháng 1/2010 đến tháng 12/2011 là 18% trên mức lương tháng trước khi thôi đảm nhiệm chức vụ cho đến khi đủ 15 năm đóng BHXH và đủ 60 tuổi đối với nam, đủ 55 tuổi đối với nữ để hưởng chế độ hưu trí.

Đối tượng áp dụng Nghị định 110/2007/NĐ-CP

Ông Trần Văn Hoa (Hà Nội) hỏi: Qua Báo BHXH, tôi được biết Chính phủ mới có quy định về chính sách đối với lao động dôi dư. Xin hỏi đó là văn bản nào, áp dụng cho những đối tượng cụ thể nào?
Trả lời:

Văn bản mà ông đề cập là Nghị định số 110/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ về chính sách đối với người lao động dôi dư do sắp xếp lại công ty nhà nước.

Phạm vi điều chỉnh của nghị định này là:

1. Công ty nhà nước, công ty thuộc các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội được thành lập và tổ chức hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước (sau đây gọi chung là công ty nhà nước) thực hiện sắp xếp lại theo phương án được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, bao gồm:

a) Cổ phần hoá, giao, bán;

b) Chuyển thành công ty TNHH;

c) Giải thể, phá sản.

2. Nông trường quốc doanh thực hiện sắp xếp, tổ chức lại theo Nghị định số 170/2004/NĐ-CP ngày 22/9/2004 của Chính phủ về sắp xếp, đổi mới và phát triển nông trường quốc doanh; lâm trường quốc doanh thực hiện sắp xếp, tổ chức lại theo Nghị định số 200/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về sắp xếp, đổi mới và phát triển lâm trường quốc doanh.

Đối tượng áp dụng Nghị định này là người lao động dôi dư đang thực hiện hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc có thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng, gồm:

1. Người lao động được tuyển dụng lần cuối cùng vào công ty quy định tại các điểm a và b khoản 1 Điều 1 Nghị định này trước ngày 21/4/1998 (thời điểm thực hiện Chỉ thị số 20/1998/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà nước), gồm:

a) Người lao động đang làm việc, khi sắp xếp lại, công ty nhà nước đã tìm mọi biện pháp tạo việc làm, nhưng không bố trí được việc làm;

b) Người lao động có tên trong danh sách thường xuyên của công ty nhà nước nhưng không có việc làm (đang chờ việc), tại thời điểm sắp xếp lại, công ty vẫn không bố trí được việc làm.

2. Người lao động được tuyển dụng lần cuối cùng vào công ty quy định tại điểm c khoản 1 Điều 1 Nghị định này trước ngày 26/4/2002 (thời điểm có hiệu lực thi hành của Nghị định số 41/2002/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách đối với lao động dôi dư do sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước

3. Người lao động có tên trong danh sách thường xuyên của nông, lâm trường quốc doanh quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định này, được tuyển dụng lần cuối cùng vào nông, lâm trường trước ngày 21/4/1998 (riêng người lao động của nông, lâm trường quốc doanh thực hiện giải thể thì thời điểm tuyển dụng lần cuối cùng theo quy định tại khoản 2 Điều này), tại thời điểm sắp xếp lại, nông, lâm trường đã tìm mọi biện pháp tạo việc làm, nhưng không bố trí được việc làm và không thực hiện chế độ giao đất, giao rừng của nông, lâm trường.

Thủ tục ủy quyền để nhận lương hưu

Một bạn đọc (TP.HCM) hỏi: Ba tôi là cán bộ hưu trí, trước đây nhận lương hưu tại UBND phường. Vào tháng 10/2000, ba tôi xuất cảnh sang Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình và hiện đang sinh sống tại Mỹ. Nay ba tôi có nguyện vọng ủy quyền cho tôi nhận tiền lương hưu nhưng tôi không biết phải làm những thủ tục gì?

Trả lời:

Ba bạn làm giấy ủy quyền có sự xác nhận của sứ quán Việt Nam nơi ba bạn đang cư trú. Giấy ủy quyền có giá trị 6 tháng/lần. Bạn xuất trình giấy ủy quyền này cho bộ phận phát lương hưu tại địa phương nơi ba bạn đã từng nhận lương hưu để được nhận thay.
Đóng BHXH 3 tháng có được nhận trợ cấp?

Một số bạn đọc hỏi: NLĐ có thời gian tham gia BHXH đủ ba tháng thì khi nghỉ việc có được hưởng trợ cấp BHXH? Nếu được hưởng thì mức trợ cấp là bao nhiêu?

Trả lời:

Theo qui định tại khoản 1 điều 30 Nghị định 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ, những trường hợp đủ điều kiện nhận trợ cấp BHXH gồm:

Đủ tuổi hưởng lương hưu theo qui định tại điều 26 Nghị định 152/2006/NĐ-CP mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH.

Suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH:

Sau 12 tháng nghỉ việc nếu không tiếp tục đóng BHXH và có yêu cầu nhận BHXH một lần mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH.

Ra nước ngoài định cư hợp pháp.

Những trường hợp nêu trên mà đóng BHXH từ đủ 3 tháng đến dưới 1 năm được hưởng BHXH một lần với mức hưởng như sau:

Bằng 0,75 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH nếu đã đóng BHXH từ đủ 3 tháng đến đủ 6 tháng;

Bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH nếu đã đóng BHXH từ trên 6 tháng đến 12 tháng.

Được cấp bù kinh phí để thanh toán chế độ ốm đau, thai sản

Một số bạn đọc hỏi:Theo Luật BHXH người sử dụng lao động được giữ lại 2% tiền đóng BHXH để chi trả chế độ ốm đau, thai sản cho người lao động. Nhưng nếu số tiền mà người sử dụng lao động giữ lại không đủ chi trả cho người lao động thì xử lý như thế nào?

Trả lời:

Theo Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30/01/2007 của Bộ lao động - Thương binh và xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ (Nghị định hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc) thì việc quyết toán chi trả chế độ ốm đau, thai sản theo qui định của người sử dụng lao động với tổ chức BHXH được thực hiện mỗi quý một lần.

Trường hợp số tiền quyết toán nhỏ hơn số tiền được giữ lại, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả lại, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả lại quỹ BHXH số dư chênh lệch vào tháng dầu quý sau.

Trong trường hợp số tiền chi trả chế độ ốm đau, thai sản cho người lao động vượt nhiều so với số tiền được giữ lại trong quý, thì người sử dụng lao động chủ động quyết toán sớm hơn với tổ chức BHXH.

Tạm dừng lương hưu, trợ cấp BHXH

Một số bạn đọc hỏi: Khi nào việc hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH bị tạm dừng?

Trả lời:

Theo Nghị định 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ (Nghị định hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc), người lao động đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng khi thuộc trong các trường hợp sau đây:

- Chấp hành hình phạt tù nhưng không được hưởng án treo;

- Xuất cảnh trái phép;

- Bị tòa án tuyên bố là mất tích.

Xử phạt với mỗi hành vi vi phạm BHXH

Một số bạn đọc hỏi:Theo quy định hiện hành, các hành vi vi phạm quy định về BHXH sẽ bị xử lý như thế nào?

Trả lời:

Ngày 16/8/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 135/2007/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội.

Theo đó, đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính về pháp luật bảo hiểm xã hội, cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền:

Tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, cơ quan, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung sau đây:

a) Tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động có thời hạn hoặc không thời hạn theo quy định của pháp luật;

b) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.

Các cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra sau đây:

a) Buộc truy nộp số tiền bảo hiểm xã hội vào quỹ bảo hiểm xã hội trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định xử phạt đối với người có hành vi vi phạm về đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 134 Luật Bảo hiểm xã hội;

b) Buộc đóng số tiền lãi của số tiền bảo hiểm xã hội chưa đóng, chậm đóng theo mức lãi suất của hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội trong năm đối với người sử dụng lao động có hành vi chưa đóng, chậm đóng bảo hiểm xã hội từ 30 ngày trở lên;

c) Buộc hoàn trả số tiền bảo hiểm xã hội cho người lao động trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định xử phạt đối với người sử dụng lao động;

d) Buộc sửa lại cho đúng, nộp lại giấy tờ đã làm sai.

Ngoài ra, cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính còn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả khác quy định tại Nghị định này.

Các đối tượng tinh giản biên chế

Ông Nguyễn Hữu Minh (Đống Đa, Hà Nội) hỏi: Qua báo chí, tôi được biết mới đây Chính phủ có quy định mới về chính sách tinh giản biên chế trong các cơ quan Nhà nước. Xin hỏi, chính sách này được áp dụng đối với những đối tượng nào?

Trả lời:

Ngày 8/8/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 132/2007/NĐ-CP về chính sách tinh giản biên chế.
Nghị định này quy định về chính sách tinh giản biên chế đối với các cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập từ Trung ương đến cấp huyện; doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá, giao, bán, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản hoặc chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn; nông trường, lâm trường quốc doanh được sắp xếp lại theo quy định của pháp luật.
Về đối tượng áp dụng, tại Điều 2 Nghị định này đã quy định rõ, cụ thể là:
1. Cán bộ, công chức, viên chức dôi dư do sắp xếp lại tổ chức theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc do đơn vị sự nghiệp công lập sắp xếp lại tổ chức, biên chế để thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhuiệm vụ, tổ chức, biên chế và tài chính theo quy định của pháp luật.
2. Người thôi giữ chức vụ lãnh đạo, bao gồm: cán bộ do bầu cử, bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý do sắp xếp, kiện toàn lại tổ chức hoặc không tái cử nhưng chưa đến tuổi nghỉ hưu, không bố trí được vào vị trí công tác mới.
3. Cán bộ, công chức, viên chức chưa đạt trình độ chuẩn theo quy định của vị trí công việc đang đảm nhận nhưng không có vị trí công tác khác phù hợp để bố trí và không thể bố trí đào tạo lại được để chuẩn hoá về chuyên môn; những cán bộ, công chức, viên chức dôi dư do cơ cấu cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan, đơn vị không hợp lý và không thể bố trí, sắp xếp được công việc khác.
4. Những người không hoàn thành nhiệm vụ được giao trong hai năm liền kề gần đây do năng lực chuyên môn, nghiệp vụ yếu hoặc sức khỏe không bảo đảm hoặc do thiếu tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức, kỷ luật kém nhưng chưa đến mức buộc phải thôi việc theo đánh giá của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
5. Thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng, thành viên Ban Kiểm soát của các doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hoá, giao, bán, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản hoặc chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005; Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng của các nông, lâm trường quốc doanh sắp xếp lại theo quy định của Nghị định số 17012004/NĐ-CP ngày 22/9/2004 của Chính phủ về sắp xếp đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh, Nghị định số 200/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về sắp xếp, đổi mới và phát triển lâm trường quốc doanh nhưng không tiếp tục làm việc tại doanh nghiệp, nông trường, lâm trường quốc doanh đó hoặc ở khu vực Nhà nước.

Cộng thời gian đóng BHXH bắt buộc và tự nguyện để hưởng chế độ hưu trí

Bà Bùi Thị Yên (Lý Thái Tổ, Hà Nội) hỏi: Đến tháng 10 năm nay tôi đủ 55 tuổi, những mới có 17 năm 5 tháng đóng BHXH. Từ tháng 1/2007 tôi muốn ký HĐLĐ mới để để đóng BHXH tự nguyện có được không? Nếu được tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện, đến khi đủ 20 năm đóng BHXH, tôi có được hưởng chế độ hưu trí như đối với các trường hợp tham gia BHXH bắt buộc không?

Trả lời:

Theo Luật BHXH, BHXH tự nguyện được thực hiện từ năm 2008, nên bà chưa thể tham gia từ tháng 11/2007.
Theo Luật BHXH, lao động nữ đủ 55 tuổi nhưng thời gian đóng BHXH còn thiếu không quá 5 năm so với thời gian quy định thì được đóng tiếp BHXH tự nguyện cho đến khi đủ 20 năm để được hưởng chế độ quy định.
Tại khoản 1, Điều 79 Luật BHXH đã quy định: Người lao động đóng BHXH bắt buộc sau đó đóng BHXH tự nguyện thì thời gian đóng BHXH bắt buộc được cộng với thời gian đóng BHXH tự nguyện để làm cơ sở tính hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất.

Không thuộc đối tượng áp dụng Nghị định 132

Ông Nguyễn Thái Hậu (Quốc Oai, Hà Tây) hỏi: Tôi nguyên là cán bộ UBND xã. Đầu tháng 10/2005, tôi được giải quyết chế độ nghỉ chờ hưu. Nay tôi thấy trên phương tiện thông tin đại chúng đưa tin Chính phủ ban hành Nghị định 132 về giải quyết chế độ BHXH cho người nghỉ trước tuổi. Vậy trường hợp của tôi có được áp dụng theo quy định tại nghị định này hay không?

Trả lời:
Như đã trả lời bạn đọc Nguyễn Hữu Minh, Nghị định số 132/2007/NĐ-CP ngày 8/8/2007 của Chính phủ quy định về chính sách tinh giản biên chế với phạm vi và đối tượng áp dụng cụ thể như trên.
Trường hợp của ông, đã được giải quyết chế độ từ năm 2005, theo quy định tại Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn; không thuộc đối tượng áp dụng Nghị định
Có thể chờ để tham gia BHXH tự nguyện

Bạn Nguyễn Minh Vũ (quận 1, TP.HCM) hỏi: Công ty chúng tôi có một lao động nữ sinh năm 1952, làm công việc vệ sinh quét rác đường phố. Đến tháng 5/2007, lao động này có thời gian đóng BHXH là 17 năm 4 tháng, theo nguyện vọng muốn tự đóng BHXH cho đủ 20 năm để hưởng chế độ hưu trí có được không?

Trả lời:

Vấn đề ông hỏi, ông Cao Văn Sang- Giám đốc BHXH TP.HCM trả lời:

Hiện nay, chế độ BHXH tự nguyện chưa thực hiện (Theo Luật BHXH, chế độ này sẽ thực hiện từ tháng 1/2008). Chế độ này áp dụng cho những người còn trong độ tuổi lao động nhưng không thuộc diện tham gia BHXH hoặc đóng BHXH đủ 15 năm đến dưới 20 năm nhưng đã hết tuổi lao động (nam 60, nữ 55 tuổi) thì được đóng tiếp BHXH tự nguyện cho đến khi đủ 20 năm.

Trường hợp bạn hỏi, người lao động đã đến tuổi nghỉ hưu (nữ 55) nhưng thời gian tham gia BHXH là 17 năm 4 tháng, chưa đủ điều kiện nhận chế độ hưu hàng tháng, nhưng đủ điều kiện tham gia BHXH tự nguyện. Từ 1/8/2007, nếu Công ty không tiếp tục ký hợp đồng lao động để được tiếp tục tham gia BHXH thì người lao động làm thủ tục chốt sổ BHXH tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện cho đủ 20 năm để hưởng chế độ hưu trí hàng tháng.

Cách tính mức hưởng chế độ ốm đau

Ông Nguyễn Văn Mùi (Gia Lâm, Hà Nội) hỏi: Mức hưởng chế độ ốm đau của người lao động tham gia BHXH được tính như thế nào? Nếu trong tháng, người lao động nghỉ nhiều ngày thì việc đóng BHXH được thực hiện ra sao? Đơn vị sử dụng lao động có phải đóng BHXH trong thời gian người lao động nghỉ ốm không?

Trả lời:

Theo Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30/1/2007 của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc, mức hưởng chế độ ốm đau theo thời gian quy định được tính như sau:

Mức hưởng chế độ ốm đau = Tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc/26 ngày x 75 (%) x Số ngày nghỉ việc được hưởng chế độ ốm đau.

Số ngày nghỉ việc được hưởng chế độ ốm đau được tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.Cũng theo Thông tư số 03, thời gian người lao động nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì cả người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng BHXH trong tháng đó. Thời gian này không tính là thời gian đóng BHXH.

Điều kiện về thời gian đóng BHXH để hưởng chế độ thai sản

Một bạn đọc (đề nghị không nêu tên) hỏi:Tôi nghe nói để được hưởng chế độ thai sản, người lao động phải đáp ứng điều kiện về thời gian tham gia BHXH. Xin hỏi, qui định cụ thể về vấn đề này như thế nào? Có phải sau khi sinh con nếu rủi ro người mẹ bị chết thì người bố cũng được hưởng trợ cấp để nuôi con?

Trả lời:

Theo Luật BHXH và các văn bản hướng dẫn thi hành, lao động nữ sinh con và người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi phải đóng BHXH từ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.

Trường hợp sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi trước ngày 15 của tháng, thì tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi không tính vào thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.

Trường hợp sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi từ ngày 15 trở đi của tháng, thì tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi được tính vào thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.

Ví dụ: Chị B nghỉ việc vào tháng 8/2007 và sinh con vào ngày 16/12/2007, khoảng thời gian 12 tháng trước khi sinh con được tính từ tháng 01/2007 đến tháng 12/2007, nếu trong khoảng thời gian này chị B đã đóng BHXH từ đủ 6 tháng trở lên thì chị B được hưởng chế độ thai sản theo quy định.

Cũng theo quy định hiện hành, trường hợp mẹ chết sau khi sinh con thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng hưởng chế độ thai sản, cụ thể là:

- Trường hợp chỉ có mẹ tham gia BHXH, thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 4 tháng tuổi. Mức hưởng chế độ thai sản được tính trên cơ sở mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc của mẹ.

- Trường hợp cả cha và mẹ đều tham gia BHXH hoặc chỉ có cha tham gia BHXH, thì cha nghỉ việc chăm sóc con được hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 4 tháng tuổi. Mức hưởng chế độ thai sản được tính trên cơ sở mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc của cha.

Chế độ TNLĐ, BNN đối với quân nhân

Một số bạn đọc hỏi: Trong trường hợp nào quân nhân được hưởng trợ cấp tai nạn lao động?

Trả lời:

Tại Nghị định số 68/2007/NĐ-CP ngày 19/4/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc đối với quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân đã quy định:

Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc Quân đội nhân dân; Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ và sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật thuộc Công an nhân dân; Người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân; Hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dân; Hạ sĩ quan, chiến sĩ Công an nhân dân (gọi chung là người lao động), nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn thuộc một trong các trường hợp sau thì được hưởng chế độ tai nạn lao động:

1. Bị tai nạn trong huấn luyện quân sự, trong học tập, rèn luyện, công tác, lao động sản xuất, thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu của chỉ huy đơn vị, kể cả tại nơi làm việc hoặc ngoài nơi làm việc, trong giờ làm việc hoặc ngoài giờ làm việc.

2. Bị tai nạn trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc, trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý (Trong khoảng thời gian hợp lý là khoảng thời gian cần thiết để người lao động đến cơ quan trước giờ làm việc hoặc trở về sau giờ làm việc theo quy định hoặc ngoài giờ làm việc theo yêu cầu của người chỉ huy đơn vị; Tuyến đường hợp lý là tuyến đường thường xuyên đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc và ngược lại).

Có thể chốt sổ chờ hưu

Bà Nguyễn Minh Thư (TPHCM) hỏi: Tôi sinh năm 1955, có thời gian đóng bảo hiểm đủ 30 năm. Nay muốn nghỉ hưu nhưng không biết khi áp dụng Luật BHXH thì tôi có đượcc làm thủ tục ngay hay không (tôi chấp nhận trừ 3% do chưa đủ tuổi)? Vì tôi nghe nói là phải bảo lưu chờ cho đến khi đủ tuổi.

Trả lời:

Vấn đề bà hỏi, ông Cao Văn Sang- Giám đốc BHXH TP.HCM trả lời:

Luật BHXH có hiệu lực từ 1/1/2007 không còn áp dụng chế độ hưu trí cho những người có đủ 30 năm đóng BHXH, nam độ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi. Vì vậy, trường hợp của chị mới 52 tuổi chưa đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí. Nếu sức khỏe kém, chị có thể xin giám định sức khỏe. Nếu Hội đồng giám định y khoa kết luận tỉ lệ suy giảm khả năng lao động trên 61% thì chị được nhận chế độ hưu trước tuổi. Mỗi năm nghỉ trước tuổi bị trừ 1%.

Trường hợp giám định y khoa có tỉ lệ 61% mà phải nghỉ việc thì chị chốt sổ và chờ đến năm 55 tuổi (đủ tuổi về hưu) để làm thủ tục nhận chế độ hưu trí.

Quyền lợi khi tham gia BHYT tự nguyện

Bà Nguyễn Thị Vân (Hà Tây) hỏi: Khi tham gia BHYT tự nguyện, người tham gia được hưởng những quyền lợi gì?

Trả lời:

Tại điểm b, khoản 1, mục III Thông tư liên tịch số 06/2007/TTLT-BYT-BTC ngày 30/3/2007 của Bộ Y tế- Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện BHYT tự nguyện đã quy định: Người có thẻ BHYT khi KCB ngoại trú, nội trú tại các cơ sở KCB công lập và ngoài công lập (cơ sở KCB BHYT) được cơ quan BHXH thanh toán chi phí khi sử dụng các dịch vụ sau:

Khám bệnh, chẩn đoán, điều trị và phục hồi chức năng trong thời gian điều trị tại cơ sở KCB (theo danh mục do Bộ Y tế quy định); Xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, thăm dò chức năng; Thuốc, dịch truyền theo danh mục do Bộ Y tế quy định; Máu và các chế phẩm của máu; Các phẫu thuật, thủ thuật; Chăm sóc thai sản và sinh đẻ; Sử dụng vật tư, thiết bị ytế và giường bệnh.

c) Người tham gia BHYT tự nguyện khi KCB tại nơi đăng ký KCB ban đầu và ở cơ sở KCB khác theo giới thiệu chuyển viện phù hợp với tuyến chuyên môn kỹ thuật theo quy định của Bộ Y tế và trong các trường hợp cấp cứu tại các cơ sở KCB BHYT, được cơ quan BHXH thanh toán chi phí sử dụng các dịch vụ quy định tại điểm b, khoản 1 mục này theo giá viện phí hiện hành của nhà nước, cụ thể:

c1. KCB ngoại trú:

+ Được thanh toán 100% chi phí khi có chi phí dưới 100.000 đồng cho một đợt KCB ngoại trú;

+ Được thanh toán 80% chi phí KCB ngoại trú khi có chi phí từ 100.000 đồng trở lên; phần còn lại do người bệnh tự thanh toán với cơ sở KCB.

c 2. Khám, chữa bệnh nội trú:

+ Được thanh toán 80% chi phí khám, chữa bệnh nội trú; phần còn lại do người bệnh tự thanh toán với cơ sở KCB.

d) Trường hợp sử dụng dịch vụ kỹ thuật cao có chi phí lớn(theo danh mục do Bộ Y tế ban hành sau khi thống nhất với Bộ Tài chính),được cơ quan BHXH thanh toán 80% chi phí nhưng không quá 20.000.000 đồng cho một lần sử dụng dịch vụ kỹ thuật đó; phần còn lại do người bệnh tự thanh toán với cơ sở KCB.

đ) Người tham gia BHYT tự nguyện khi KCB theo yêu cầu riêng, KCB tại cơ sở ytế không ký hợp đồng KCB BHYT, KCB ở nước ngoài, được cơ quan BHXH thanh toán theo chi phí thực tế theo tỷ lệ quy định tại điểm c và d của khoản này nhưng không vượt quá mức quy định tại Phụ lục của Thông tư này.

e) Đối với học sinh, sinh viên: Khi tham gia BHYT tự nguyện, ngoài quyền lợi KCB được hưởng theo quy định tại các điểm c và đ khoản này còn được hưởng quyền lợi về chăm sóc sức khỏe ban đầu tại y tế trường học theo quy định hiện hành. Trường hợp tử vong được trợ cấp 1.000.000 đồng.

BHYT cho thân nhân làm công tác cơ yếu

Ông Trần Văn Tiến (Phủ Lý, Hà Nam) hỏi: Có phải thân nhân người làm công tác cơ yếu được hưởng chế độ BHYT bắt buộc? Đây có phải chế độ mà thân nhân người làm công tác cơ yếu được hưởng suốt đời?

Trả lời:

Theo Nghị định số 153/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ, thân nhân của người đang làm công tác cơ yếu là sĩ quan đang công tác tại Ban Cơ yếu Chính phủ và người đang làm công tác cơ yếu hưởng lương theo bảng lương cấp bậc quân hàm sĩ quan quân đội nhân dân không thuộc diện tham gia BHYT bắt buộc khác (bao gồm các đối tượng: bố đẻ, mẹ đẻ; bố đẻ, mẹ đẻ của vợ hoặc chồng; bố nuôi, mẹ nuôi của bản thân, của vợ hoặc chồng; vợ hoặc chồng; con đẻ, con nuôi dưới 18 tuổi; con đẻ, connuôi từ đủ 18 tuổi trở lên nhưng bị tàn tật mất khả năng lao động theo quy định của pháp luật) được hưởng chế độ BHYT bắt buộc.

Thân nhân người đang làm công tác cơ yếu được cấp thẻ BHYT theo quy định tại Nghị địnhnày được hưởng chế độ khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại Điều lệ BHYT ban hành kèm theo Nghị định số 63/2005/NĐ-CP ngày 16/5/2005 của Chính phủ. Cũng theo Nghị định số 153 nêu trên, khi người đang làm công tác cơ yếu nghỉ hưu, chuyển ngành, thôi việc; bị kỷ luật cho ra khỏi ngành cơ yếu hoặc bị chết thì thân nhân của họ chỉ được hưởng chế độ BHYT theo quy định tại Nghị định này cho đến thời điểm thẻ BHYT đã cấp hết giá trị sử dụng.
Chế độ thai sản tính theo mức lương bình quân

Bạn Nguyễn Hồng Vân (Công ty dịch vụ cơ quan nước ngoài) hỏi: Năm 2006 tôi đóng BHXH với mức lương cao hơn 9 triệu. Tôi mang thai vào tháng 7/2006 và sẽ sinh con vào khoảng tháng 2/2007. Vậy trợ cấp thai sản tôi sẽ được nhận như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định của Luật BHXH mức lương làm cơ sở tính trợ cấp thai sản là lương bình quân đóng BHXH 6 tháng trước khi nghỉ sinh. Nếu bạn sinh con tháng 2/2007, mức lương để tính chế độ thai sản được tính bình quân của mức lương nộp BHXH của tháng 8, 9, 10, 11, 12 năm 2006 và tháng 1/2007. Dù mức lương thực tế của chị trên 9 triệu đồng/tháng thì từ tháng 1/2007 mức lương nộp BHXH chỉ được tính 9 triệu đồng.

Nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe

Một số bạn đọc hỏi: Việc nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khỏe đối với người lao động được thực hiện từ năm 2007 như thế nào?
Trả lời:

Theo Nghị định 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc:
Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe trong một năm tính có ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hàng tuần, ngày đi và về nếu nghỉ tại cơ sở tập trung số ngày nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ do người sử dụng lao động và Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở hoặc Ban Chấp hành Công đoàn lâm thời quyết định, cụ thể như sau:
- Tối đa 10 ngày đối với người lao động sức khoẻ còn yếu sau thời gian ốm đau do mắc bệnh cần chữa trị dài ngày;
- Tối đa 7 ngày đối với người lao động sức khỏe còn yếu sau thời gian ốm đau do phải phẫu thuật;
- Bằng 5 ngày đối với các trường hợp khác.
Mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ một ngày:
- Bằng 25% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe tại gia đình;
- Bằng 40% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại cơ sở tập trung, mức hưởng này tính cả tiền đi lại; tiền ăn và ở.

Không được tính thời gian hưởng BHXH

Ông Kiều Tấn Lực (phường Trường Thọ, Thủ Đức, TPHCM) hỏi: Tôi tham gia lực lượng thanh niên xung phong (TNXP) từ năm 1986 đến tháng 8/1989 thì xuất ngũ và nhận trợ cấp khoảng 8.000 đồng. Đến tháng 1/1990 tôi được ký HĐLĐ với Xí nghiệp vật tư vận tải – Công ty điện lực 2 và làm việc cho đến nay. Vậy thời gian tôi tham gia lực lượng TNXP có được cộng nối vào thời gian công tác hiện nay để tính thời gian tham gia BHXH không?
Trả lời:

Theo công văn số 3634/LĐ-TBXH ngày 9/10/1997 của Bộ LĐTB&XH và Chỉ thị số 460/Ttg ngày 23/9/1978 của Thủ tướng Chính phủ, TNXP sau khi hết nhiệm kỳ phục vụ được tuyển ngay vào cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước thì được tính thời gian để hưởng BHXH kể từ ngày được tuyển vào TNXP.
Trường hợp của ông sau khi hết thời gian phục vụ đã được hưởng trợ cấp xuất ngũ. Một thời gian sau mới được tuyển vào doanh nghiệp Nhà nước nên không được tính thời gian phục vụ lực lượng TNXP để hưởng BHXH

Hưởng trợ cấp một lần theo Luật BHXH

Một số bạn đọc hỏi: Chúng tôi đã nghỉ làm việc và thôi đóng BHXH từ cuối năm 2006. Nếu chúng tôi muốn nhận trợ cấp một lần thì phải chờ đến bao giờ, mức trợ cấp tính như thế nào?

Trả lời:

Nghị định 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc có quy định: Người lao động bảo lưu thời gian đóng BHXH trước ngày 1/1/2007 thì trợ cấp BHXH một lần khi không đủ điều kiện hưởng lương hưu được giải quyết theo quy định tại Điều 30 Nghị định này.
Theo Điều 30, điều kiện hưởng BHXH một lần với trường hợp như trên là: Sau 12 tháng nghỉ việc nếu không tiếp tục đóng BHXH và có yêu cầu nhận BHXH một lần.
Mức hưởng BHXH một lần được tính theo số năm đã đóng BHXH, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH.Khi tính mức hưởng BHXH một lần, nếu thời gian đóng BHXH có tháng lẻ dưới 3 tháng thì không tính; từ đủ 3 tháng đến đủ 6 tháng tính là nửa năm; từ trên 6 tháng đến 12 tháng tính tròn một năm.

Đóng tiếp đến khi đủ 15 năm đóng BHXH

Bà Vũ Thị Oanh (Thanh Hoá) hỏi: Tôi nguyên là Chủ tịch Hội phụ nữ xã (cán bộ chuyên trách). Năm ngoái tôi xin nghỉ công tác và được tự đóng tiếp BHXH để đến khi đủ tuổi để được hưởng chế độ hưu trí. Nay nếu theo Luật BHXH thì việc tự đóng BHXH của tôi có gì thay đổi không?

Trả lời:

Theo Nghị định 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc, cán bộ chuyên trách cấp xã khi thôi đảm nhiệm chức vụ trước ngày 1/1/2007 mà có đủ 10 năm đóng BHXH trở lên, còn thiếu tối đa 5 năm thì đủ tuổi nghỉ hưu và đang tự đóng tiếp BHXH hằng tháng với mức đóng hằng tháng bằng tổng mức đóng của người lao động và người sử dụng lao động theo mức lương tháng trước khi thôi đảm nhiệm chức vụ vào quỹ hưu trí và tử tuất cho tổ chức BHXH nơi cư trú cho đến khi đủ 15 năm đóng BHXH và đủ 60 tuổi đối với nam, đủ 55 tuổi đối với nữ thì được hưởng chế độ hưu trí.

Nghỉ thai sản sau khi bị tai nạn

Bạn Nguyễn Thị Lành (KCX Linh Trung) hỏi: tôi có thai, sắp sinh con. Được biết theo Luật BHXH thì người bị thương tật 21% trở lên được nghỉ sau khi sinh 6 tháng. Trước đây, tôi đã bị tai nạn giao thông gãy chân nay đã lành. Xin hói có được nghỉ thai sản 6 tháng không?

Trả lời:

Theo quy định của luật BHXH và Nghị định 152/2006/NĐ CP hướng dẫn một số điều của Luật BHXH thì lao động nữ là người tàn tật có mức suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên được nghỉ thai sản 6 tháng. Trường hợp của chị chưa được xác định mức suy giám khả năng lao động do chấn thương, nên chưa thể khắng định sẽ được nghr 6 tháng. Hiện nay, chưa có hướng dẫn gì về trường hợp này. Có lẽ chị nên xin giám định khả năng lao động do thương tật tại Hội đồng giám định y khoa thành phố để có thể được nghỉ đủ tiêu chuẩn.

Thanh toán chi phí KCB nước ngoài

Ông Nguyễn Vũ Ninh (Ba Đình, Hà Nội) hỏi: Vừa qua người thân của tôi (có thẻ BHYT) đi phẫu thuật ở Singapore. Trong trường hợp này, người thân của tôi có được hưởng chế độ gì về BHYT không?

Trả lời:

Theo Thông tư liên tịch số 21/2005/TTLB- BYT-BTC ngày 27/7/2005 của liên Bộ: Tài chính- Y tế hướng dẫn thực hiện BHYT bắt buộc, trường hợp KCB ở nước ngoài thì được cơ quan BHXH thanh toán theo mức chi phí bình quân của các bệnh viện tuyến trung ương trên địa bàn Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
Cũng theo Thông tư này, đối với các cơ sở KCB trên địa bàn thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, mức thanh toán cho các tuyến được tính bằng 1,2 lần mức quy định cho các tuyến tương đương (Trong trường hợp điều trị nội trú, chi phí bình quân của tuyến trung ương là 900.000 đồng).

(theo www.bhxhgl.org.vn)
Share: