Tự tin, gốc rễ mọi thành công
Keep Calm - Tự Tin Để Thành Công
Keep Calm - Tự Tin Để Thành Công
Hãy Yêu Đời Vì Đời Có Bao Nhiêu Ngày Vui!
Hãy để những vần thơ và điệu nhạc nuôi dưỡng tâm hồn của bạn!
Bước 1: Đăng nhập vào ứng dụng VssID (nếu chưa có tài khoản, vui lòng xem cách cài đặt tại đây).
Tại đây sẽ hiển thị thông tin thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp của người lao động. Như trường hợp của người lao động trên là 08 năm 02 tháng, tức là 98 tháng (08 năm tương đương 96 tháng).
Mức hưởng tiền hỗ trợ được quy định tại Nghị quyết 116 như sau:
Mức | Thời gian đóng BHTN | Mức hỗ trợ (đồng/người) |
1 | Dưới 12 tháng | 1.800.000 |
2 | Từ đủ 12 tháng - dưới 60 tháng | 2.100.000 |
3 | Từ đủ 60 tháng - dưới 84 tháng | 2.400.000 |
4 | Từ đủ 84 tháng - dưới 108 tháng | 2.650.000 |
5 | Từ đủ 108 tháng - dưới 132 tháng | 2.900.000 |
6 | Từ đủ 132 tháng | 3.300.000 |
Theo quy định Khoản 2, Khoản 4 Điều 3 Quyết định 28/2021/QĐ-TTg, người lao động đã nghỉ việc cần thực hiện theo trình tự, thủ tục sau đây để nhận được tiền hỗ trợ:
Bước 1: Chuẩn bị Mẫu số 04 - Đề nghị hưởng hỗ trợ theo Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg.
Bước 2: Chậm nhất đến hết ngày 20.12.2021 phải gửi Đề nghị trên tới BHXH tỉnh/huyện nơi người lao động có nhu cầu nhận hỗ trợ theo một trong các cách sau:
- Trực tuyến thông qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia, Cổng Dịch vụ công của Bảo hiểm xã hội Việt Nam;
- Bằng ứng dụng Bảo hiểm xã hội số (VssID);
- Qua bưu điện;
- Trực tiếp tại cơ quan BHXH tỉnh/huyện.
Để thuận tiện cho việc nhận tiền, mỗi người lao động nên mở sẵn tài khoản tiền gửi tại ngân hàng.
Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ khi nhận được để nghị hỗ trợ của người lao động, cơ quan BHXH chi trả tiền hỗ trợ (ưu tiên trả qua tài khoản ngân hàng) cho người lao động.
Mẫu số 04
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
ĐỀ NGHỊ HƯỞNG
HỖ TRỢ THEO QUYẾT ĐỊNH SỐ 28/2021/QĐ-TTg
Kính gửi: Bảo
hiểm xã hội tỉnh/huyện...
Họ và
tên: …………………………………………………………………………………
Ngày sinh: .………………………………………………………………………………..
Mã số
BHXH: ……………………………………………………………………………..
CMND/CCCD: …………………………………………………………………………….
Số điện thoại:
……………………………………………………………………………..
Địa chỉ liên hệ:
……………………………………………………………………………1
□ Đã chấm dứt hợp đồng lao động/hợp đồng
làm việc với đơn vị sử dụng lao động ……………………………………………………………………………………….2
□ Đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp tại
đơn vị sử dụng lao động ……………………………………………………………………………………….3
Có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp
chưa được tính hưởng trợ cấp thất nghiệp tại thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2021
là …….. tháng. Tôi đề nghị được hưởng hỗ trợ từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp theo
Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg.
Tôi chọn hình thức nhận hỗ trợ:
□ Tiền mặt tại cơ quan bảo hiểm xã hội.
□ Tài khoản cá nhân của người đề nghị.
Số tài khoản:
………………………………………………………………………………
Ngân hàng:
………………………………………………………………………………..
|
|
….., ngày …. tháng …… năm ... |
___________________
1 Ghi rõ địa chỉ liên hệ: số nhà,
thôn/xóm, xã/phường, huyện.
2 Ghi rõ tên đơn vị, địa chỉ: huyện,
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
3 Ghi rõ tên đơn vị, địa chỉ: huyện,
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Hôm nay, ngày 01/10/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg quy định về việc thực hiện chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch bệnh Covid-19 từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
3. Phương thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện
Hiện nay có tất cả 06 phương thức tham gia mà người tham gia có thể lựa chọn:
(1) Đóng hàng tháng;
(2) Đóng 3 tháng một lần;
(3) Đóng 6 tháng một lần;
(4) Đóng 12 tháng một lần;
(5) Đóng một lần cho nhiều năm về sau nhưng không quá 05 năm một lần.
(6) Đóng một lần cho những năm còn thiếu đối với người đã đủ tuổi hưởng lương hưu nhưng thời gian đóng còn thiếu không quá 10 năm.
Trường hợp đã đủ tuổi nghỉ hưu mà thời gian đóng bảo hiểm xã hội còn thiếu trên 10 năm thì người tham gia tiếp tục đóng theo một trong 05 phương thức trên cho đến khi thời gian đóng còn thiếu không quá 10 năm thì được đóng một lần cho những năm còn thiếu (theo phương thức 6).
4. Mức hưởng bảo hiểm xã hội tự nguyện
Mức hưởng lương hưu:
Theo Điều 3 Nghị định 134/2015/NĐ-CP, mức lương hưu hàng tháng tính:
Lương hưu = Tỷ lệ hưởng x Bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội.
Mức hưởng trợ cấp một lần khi nghỉ hưu:
Theo khoản 2 Điều 74 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, trợ cấp một lần được tính như sau: Mỗi năm người tham gia ảo hiểm xã hội tự nguyện đóng cao hơn số năm tương ứng tỷ lệ hưởng lương hưu 75% được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội.
Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần
Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm được tính như sau:
- 1,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với những người tham gia BHXH trước 2014.
- 2 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với những người tham gia bảo hiểm xã hội từ 2014 trở đi.
Trường hợp thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện chưa đủ 1 năm thì hưởng mức bằng số tiền đã đóng, tối đa bằng 2 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội.
5. Chế độ tử tuất đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện
Trợ cấp mai táng
Theo Điều 80 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, trợ cấp mai táng tính bằng 10 lần lương cơ sở cho những người đóng đủ 60 tháng trở lên hoặc đang hưởng lương hưu.
Trường hợp người đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì thân nhân được hưởng trợ cấp
Trợ cấp tuất
Theo Điều 81 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội mà không may qua đời thì thân nhân được hưởng trợ cấp tuất bằng:
- 1,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với những người tham gia bảo hiểm xã hội trước 2014.
- 2 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với những người tham gia bảo hiểm xã hội từ 2014 trở đi.
- Người dân đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện chưa đủ 1 năm thì hưởng mức bằng số tiền đã đóng, tối đa bằng 2 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội.
- Tối thiểu 3 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội nếu tham gia cả bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Nếu người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đang hưởng lương hưu mà không may qua đời thì thân nhân được hưởng trợ cấp tuất bằng:
- Nếu chết trong 02 tháng đầu hưởng lương hưu thì tính bằng 48 tháng lương hưu đang hưởng.
- Trường hợp chết vào những tháng sau đó, cứ hưởng thêm 01 tháng lương hưu thì mức trợ cấp giảm đi 0,5 tháng lương hưu.
(Lễ Ký kết Quy chế phối hợp giai đoạn 2017 - 2022 giữa BHXH Việt Nam và Tổng cục Cảnh sát – Bộ Công an)
Trong
hệ thống an sinh xã hội (ASXH), BHXH, BHYT là trụ cột chính, ngày càng khẳng định
vị trí, vai trò quan trọng, một công cụ đắc lực của Nhà nước nhằm mục đích chăm
lo, bảo vệ và phát triển con người, vì sự tiến bộ và công bằng xã hội. Nghị quyết
số 28-NQ/TW ban hành ngày 23/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng được đánh
giá là có những nội dung cải cách chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) tiến bộ, tiệm
cận với các tiêu chuẩn về ASXH trong các Công ước và Khuyến nghị của Tổ chức
Lao động quốc tế (ILO). Nghị quyết số 28-NQ/TW tiếp tục khẳng định quan điểm:
“BHXH là một trụ cột chính của hệ thống ASXH trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội,
bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, đời sống nhân dân, phát triển bền vững đất
nước”.
Thực
hiện ASXH là một nội dung cơ bản và tất yếu trong trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp, nó xuất phát từ chính nhu cầu tồn tại và phát triển của doanh nghiệp và
được quy định bằng pháp luật của Nhà nước chứ không phải chỉ là sự trợ giúp, các
hoạt động thiện nguyện của doanh nghiệp đối với các thành viên kém may mắn
trong xã hội. Về trách nhiệm ASXH bắt buộc, hiện nay còn nhiều DN chưa thực hiện
nghĩa vụ, trách nhiệm đóng BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN)
cho người lao động theo quy định của pháp luật.
Theo
số liệu của BHXH Việt Nam, thời điểm tháng 10/2019, cả nước có 610.000 DN hoạt
động nhưng chỉ có 327.000 DN tham gia BHXH, BHYT, BHTN. Như vậy, còn khoảng
283.000 DN chưa tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động; số người tham gia
BHXH mới đạt hơn 16 triệu người (chiếm khoảng 32,6% lực lượng trong độ tuổi).
Như vậy, cả nước còn hơn 30 triệu người trong độ tuổi lao động, chiếm khoảng
67,4% lực lượng lao động chưa tham gia BHXH. Tình trạng nhiều doanh nghiệp chưa
tham gia BHXH, BHYT cho người lao động như trên đã gây nhiều khó khăn cho việc
cân bằng quỹ BHXH và làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động. Trong số
những doanh nghiệp này, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỉ lệ khá cao. Thông
thường các doanh nghiệp trốn đóng BHXH thường nêu lý do là việc kinh doanh
không thuận lợi, nhiều loại chi phí tăng cao khiến doanh nghiệp gặp khó khăn
trong việc đóng BHXH, BHYT cho người lao động. Bên cạnh việc nhiều
doanh nghiệp không đóng BHXH, BHYT thì tình trạng nợ đọng, chậm đóng BHXH, BHYT
còn khá phổ biến, với tổng số tiền nợ trong cả nước đến tháng 02/2021 khoảng
46.297 tỷ đồng. Cùng với đó, việc xử lý đối với đơn vị, doanh nghiệp phá sản,
giải thể, chủ bỏ trốn, ngừng hoạt động... vẫn còn khó khăn, vướng mắc.
Thực
tế cho thấy các hành vi vi phạm pháp luật BHXH, BHYT, BHTN nói trên là hành vi
vi phạm Hiến pháp về quyền con người và đã gây hậu quả nghiêm trọng, không chỉ
thiệt hại về vật chất, ảnh hưởng đến quỹ BHXH, BHYT, BHTN mà còn gây ảnh hưởng đến
trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động; cụ thể:
-
Ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động: Người lao động không được tham gia
BHXH, BHYT, BHTN hoặc tham gia không đầy đủ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền thụ
hưởng các chế độ BHXH, BHYT, BHTN, ảnh hưởng đến ASXH và trật tự an toàn xã hội.
-
Làm thất thoát quỹ BHXH, BHYT, BHTN, ảnh hưởng đến an toàn, cân đối quỹ BHXH,
BHYT trong ngắn hạn và dài hạn: quỹ BHXH, BHYT, BHTN hình thành trên cơ sở đóng
góp của người sử dụng lao động và người lao động, bảo đảm chi trả chế độ BHXH,
BHYT cho người tham gia trên nguyên tắc chia sẻ rủi ro. Việc không thực hiện
nghĩa vụ đóng hoặc nợ BHXH, BHYT kéo dài ảnh hưởng đến nguồn thu của quỹ BHXH,
BHYT, BHTN, không bảo đảm khả năng chi trả của quỹ, gây mất cân đối quỹ.
-
Ảnh hưởng đến tính nghiêm minh của pháp luật và mục tiêu của các chính sách an
sinh xã hội của Đảng và Nhà nước. Mục tiêu mở rộng đối tượng tham gia theo tinh
thần Nghị quyết số 28-NQ/TW ban hành ngày 23/5/2018 của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng sẽ khó đạt được nếu không có biện pháp buộc chủ sử dụng lao động tuân
thủ nghiêm pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN.
Chính
vì vậy, có thể khẳng định rằng, dù bất kỳ lý do nào thì chủ sử dụng lao động vẫn
phải có trách nhiệm đăng ký tham gia BHXH, BHYT, BHTN đầy đủ cho người lao động,
vì đây là quy định bắt buộc. Ngoài việc quan tâm đến lợi nhuận, doanh nghiệp cần
phải chú trọng nâng cao mức sống và chất lượng sống cho người lao động vì cho người
lao động là một trong những nhân tố quan trọng đóng góp vào sự phát triển bền vững
của doanh nghiệp. Đặc biệt, chú trọng đến các chính sách ASXH đối với người lao
động. Các doanh nghiệp cần nhìn nhận trách nhiệm ASXH đối với cho người lao động
như một ưu thế để thu hút và trọng dụng nhân tài. Quá trình hội nhập quốc tế
sâu rộng, thực hiện tốt trách nhiệm ASXH với người lao động đồng nghĩa với việc
sẽ khẳng định được thương hiệu, uy tín của doanh nghiệp. Đồng thời khi quyền lợi
BHXH, BHYT, BHTN của người lao động được bảo đảm thì năng suất lao động được
nâng cao, thu hút được nhân tài.
Về
phía các cơ quan quản lý Nhà nước, việc khắc phục tình trạng nợ đọng, trốn đóng
BHXH, BHYT, BHTN để đảm bảo quyền lợi của người lao động không chỉ là nhiệm vụ
riêng của ngành BHXH mà còn là của cả hệ thống chính trị các cấp. Để thực hiện
tốt chính sách BHXH, BHYT, BHTN cần sự quan tâm chỉ đạo, tăng cường công tác quản
lý Nhà nước trong việc phối hợp tổ chức thực hiện nhằm tác động mạnh mẽ đến nhận
thức và hành động của các bên, nhất là các doanh nghiệp thì mới có thể thực hiện
được những mục tiêu ASXH đề ra. Trong đó, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo
dục pháp luật lao động, BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động và người sử dụng
lao động cần được chính quyền địa phương và các ngành chức năng quan tâm hơn nữa.
Tiếp đến là việc tăng cường công tác thanh, kiểm tra, giám sát thực hiện các
quy định liên quan đến thực hiện an sinh xã hội quy định tại Bộ Luật lao động,
Luật BHXH, Luật BHYT và các Luật có liên quan khác; cương quyết xử phạt vi phạm
hành chính và xem xét xử lý hình sự đối với các doanh nghiệp cố tình chây ì,
không khắc khắc phục nợ đọng và trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động
theo quy định tại Điều 216 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017)./.

