Hiển thị các bài đăng có nhãn * Kiến thức An sinh Xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn * Kiến thức An sinh Xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng

4 thg 10, 2021

Cách tính mức tiền nhận hỗ trợ theo Nghị quyết 116 bằng ứng dụng VssID

 




Để biết mức tiền hỗ trợ được nhận theo Nghị quyết 116, người lao động có thể căn cứ vào thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp được thể hiện trong VssID.

Bước 1: Đăng nhập vào ứng dụng VssID (nếu chưa có tài khoản, vui lòng xem cách cài đặt tại đây).

Bước 2: Bấm vào phần “Quá trình tham gia” 
Bước 3: Bấm vào mục “BHTN” (tức bảo hiểm thất nghiệp) 

Tại đây sẽ hiển thị thông tin thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp của người lao động. Như trường hợp của người lao động trên là 08 năm 02 tháng, tức là 98 tháng (08 năm tương đương 96 tháng).

Mức hưởng tiền hỗ trợ được quy định tại Nghị quyết 116 như sau:

Mức

Thời gian đóng BHTN

Mức hỗ trợ (đồng/người)

1

Dưới 12 tháng

1.800.000

2

Từ đủ 12 tháng - dưới 60 tháng

2.100.000

3

Từ đủ 60 tháng - dưới 84 tháng

2.400.000

4

Từ đủ 84 tháng - dưới 108 tháng

2.650.000

5

Từ đủ 108 tháng - dưới 132 tháng

2.900.000

6

Từ đủ 132 tháng

3.300.000


link tải VssID:


Share:

hồ sơ nhận hỗ trợ từ Nghị quyết 116



Theo quy định Khoản 2, Khoản 4 Điều 3 Quyết định 28/2021/QĐ-TTg, người lao động đã nghỉ việc cần thực hiện theo trình tự, thủ tục sau đây để nhận được tiền hỗ trợ:

Bước 1: Chuẩn bị Mẫu số 04 - Đề nghị hưởng hỗ trợ theo Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg. 

Bước 2: Chậm nhất đến hết ngày 20.12.2021 phải gửi Đề nghị trên tới BHXH tỉnh/huyện nơi người lao động có nhu cầu nhận hỗ trợ theo một trong các cách sau: 

- Trực tuyến thông qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia, Cổng Dịch vụ công của Bảo hiểm xã hội Việt Nam;

- Bằng ứng dụng Bảo hiểm xã hội số (VssID);

- Qua bưu điện; 

- Trực tiếp tại cơ quan BHXH tỉnh/huyện.

Để thuận tiện cho việc nhận tiền, mỗi người lao động nên mở sẵn tài khoản tiền gửi tại ngân hàng.

Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ khi nhận được để nghị hỗ trợ của người lao động, cơ quan BHXH chi trả tiền hỗ trợ (ưu tiên trả qua tài khoản ngân hàng) cho người lao động.


Mẫu số 04

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

ĐỀ NGHỊ HƯỞNG HỖ TRỢ THEO QUYẾT ĐỊNH SỐ 28/2021/QĐ-TTg

Kính gửi: Bảo hiểm xã hội tỉnh/huyện...

Họ và tên: …………………………………………………………………………………

Ngày sinh: .………………………………………………………………………………..

Mã số BHXH: ……………………………………………………………………………..

CMND/CCCD: …………………………………………………………………………….

Số điện thoại: ……………………………………………………………………………..

Địa chỉ liên hệ: ……………………………………………………………………………1

□ Đã chấm dứt hợp đồng lao động/hợp đồng làm việc với đơn vị sử dụng lao động ……………………………………………………………………………………….2

□ Đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp tại đơn vị sử dụng lao động ……………………………………………………………………………………….3

Có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp chưa được tính hưởng trợ cấp thất nghiệp tại thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2021 là …….. tháng. Tôi đề nghị được hưởng hỗ trợ từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp theo Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg.

Tôi chọn hình thức nhận hỗ trợ:

□ Tiền mặt tại cơ quan bảo hiểm xã hội.

□ Tài khoản cá nhân của người đề nghị.

Số tài khoản: ………………………………………………………………………………

Ngân hàng: ………………………………………………………………………………..

 

 

….., ngày …. tháng …… năm ...
NGƯỜI ĐỀ NGHỊ
(Ký và ghi rõ họ tên)

___________________

1 Ghi rõ địa chỉ liên hệ: số nhà, thôn/xóm, xã/phường, huyện.

2 Ghi rõ tên đơn vị, địa chỉ: huyện, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

3 Ghi rõ tên đơn vị, địa chỉ: huyện, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Share:

1 thg 10, 2021

Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch bệnh Covid-19

Hôm nay, ngày 01/10/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 28/2021/QĐ-TTg quy định về việc thực hiện chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch bệnh Covid-19 từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.









Share:

29 thg 9, 2021

Tìm hiểu về đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện năm 2021

1. Đối tượng đóng: 
Theo khoản 4 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2014, công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên và không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì đều có thể tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. 

 2. Mức đóng:
 Hàng tháng đóng bằng 22% mức thu nhập tháng do người lao động lựa chọn để đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất; mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn và cao nhất bằng 20 lần mức lương cơ sở, cụ thể: 
- Mức thu nhập chọn đóng thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn: Theo Nghị định 07/2021/NĐ-CP, mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn từ ngày 01/01/2021 là 700.000 đồng. 
- Mức thu nhập  làm căn cứ đóng thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo đối với khu vực nông thôn (700.000 đồng) và cao nhất bằng 20 lần mức lương cơ sở (29.8000.000 đồng). 
Như vậy mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện hàng tháng thấp nhất là 154.000 đồng/tháng, cao nhất là 6,116 triệu đồng/tháng. 

3.  Phương thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện

Hiện nay có tất cả 06 phương thức tham gia mà người tham gia có thể lựa chọn:

(1) Đóng hàng tháng;

(2) Đóng 3 tháng một lần;

(3) Đóng 6 tháng một lần;

(4) Đóng 12 tháng một lần;

(5) Đóng một lần cho nhiều năm về sau nhưng không quá 05 năm một lần.

(6) Đóng một lần cho những năm còn thiếu đối với người đã đủ tuổi hưởng lương hưu nhưng thời gian đóng còn thiếu không quá 10 năm.

Trường hợp đã đủ tuổi nghỉ hưu mà thời gian đóng bảo hiểm xã hội còn thiếu trên 10 năm thì người tham gia tiếp tục đóng theo một trong 05 phương thức trên cho đến khi thời gian đóng còn thiếu không quá 10 năm thì được đóng một lần cho những năm còn thiếu (theo phương thức 6).

4. Mức hưởng bảo hiểm xã hội tự nguyện

Mức hưởng lương hưu:

Theo Điều 3 Nghị định 134/2015/NĐ-CP, mức lương hưu hàng tháng tính:

Lương hưu = Tỷ lệ hưởng x Bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội.

Mức hưởng trợ cấp một lần khi nghỉ hưu:

Theo khoản 2  Điều 74 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, trợ cấp một lần được tính như sau: Mỗi năm người tham gia ảo hiểm xã hội tự nguyện đóng cao hơn số năm tương ứng tỷ lệ hưởng lương hưu 75% được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội.

Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần

Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm được tính như sau:

- 1,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với những người tham gia BHXH trước 2014.

- 2 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với những người tham gia bảo hiểm xã hội từ 2014 trở đi.

Trường hợp thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện chưa đủ 1 năm thì hưởng mức bằng số tiền đã đóng, tối đa bằng 2 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội.

5. Chế độ tử tuất đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện

Trợ cấp mai táng

Theo Điều 80 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, trợ cấp mai táng tính bằng 10 lần lương cơ sở cho những người đóng đủ 60 tháng trở lên hoặc đang hưởng lương hưu.

Trường hợp người đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì thân nhân được hưởng trợ cấp

Trợ cấp tuất

Theo Điều 81 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội mà không may qua đời thì thân nhân được hưởng trợ cấp tuất bằng:

- 1,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với những người tham gia bảo hiểm xã hội trước 2014.

- 2 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với những người tham gia bảo hiểm xã hội từ 2014 trở đi.

- Người dân đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện chưa đủ 1 năm thì hưởng mức bằng số tiền đã đóng, tối đa bằng 2 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội.

- Tối thiểu 3 tháng  mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội nếu tham gia cả bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Nếu người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đang hưởng lương hưu mà không may qua đời thì thân nhân được hưởng trợ cấp tuất bằng:

- Nếu chết trong 02 tháng đầu hưởng lương hưu thì tính bằng 48 tháng lương hưu đang hưởng.

- Trường hợp chết vào những tháng sau đó, cứ hưởng thêm 01 tháng lương hưu thì mức trợ cấp giảm đi 0,5 tháng lương hưu.

Share:

5 thg 5, 2021

TRÁCH NHIỆM AN SINH XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP

 



(Lễ Ký kết Quy chế phối hợp giai đoạn 2017 - 2022 giữa BHXH Việt Nam và Tổng cục Cảnh sát – Bộ Công an)

Trong hệ thống an sinh xã hội (ASXH), BHXH, BHYT là trụ cột chính, ngày càng khẳng định vị trí, vai trò quan trọng, một công cụ đắc lực của Nhà nước nhằm mục đích chăm lo, bảo vệ và phát triển con người, vì sự tiến bộ và công bằng xã hội. Nghị quyết số 28-NQ/TW ban hành ngày 23/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng được đánh giá là có những nội dung cải cách chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) tiến bộ, tiệm cận với các tiêu chuẩn về ASXH trong các Công ước và Khuyến nghị của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO). Nghị quyết số 28-NQ/TW tiếp tục khẳng định quan điểm: “BHXH là một trụ cột chính của hệ thống ASXH trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, đời sống nhân dân, phát triển bền vững đất nước”.

Thực hiện ASXH là một nội dung cơ bản và tất yếu trong trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, nó xuất phát từ chính nhu cầu tồn tại và phát triển của doanh nghiệp và được quy định bằng pháp luật của Nhà nước chứ không phải chỉ là sự trợ giúp, các hoạt động thiện nguyện của doanh nghiệp đối với các thành viên kém may mắn trong xã hội. Về trách nhiệm ASXH bắt buộc, hiện nay còn nhiều DN chưa thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm đóng BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) cho người lao động theo quy định của pháp luật.

Theo số liệu của BHXH Việt Nam, thời điểm tháng 10/2019, cả nước có 610.000 DN hoạt động nhưng chỉ có 327.000 DN tham gia BHXH, BHYT, BHTN. Như vậy, còn khoảng 283.000 DN chưa tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động; số người tham gia BHXH mới đạt hơn 16 triệu người (chiếm khoảng 32,6% lực lượng trong độ tuổi). Như vậy, cả nước còn hơn 30 triệu người trong độ tuổi lao động, chiếm khoảng 67,4% lực lượng lao động chưa tham gia BHXH. Tình trạng nhiều doanh nghiệp chưa tham gia BHXH, BHYT cho người lao động như trên đã gây nhiều khó khăn cho việc cân bằng quỹ BHXH và làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động. Trong số những doanh nghiệp này, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỉ lệ khá cao. Thông thường các doanh nghiệp trốn đóng BHXH thường nêu lý do là việc kinh doanh không thuận lợi, nhiều loại chi phí tăng cao khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc đóng BHXH, BHYT cho người lao động. Bên cạnh việc nhiều doanh nghiệp không đóng BHXH, BHYT thì tình trạng nợ đọng, chậm đóng BHXH, BHYT còn khá phổ biến, với tổng số tiền nợ trong cả nước đến tháng 02/2021 khoảng 46.297 tỷ đồng. Cùng với đó, việc xử lý đối với đơn vị, doanh nghiệp phá sản, giải thể, chủ bỏ trốn, ngừng hoạt động... vẫn còn khó khăn, vướng mắc.

Thực tế cho thấy các hành vi vi phạm pháp luật BHXH, BHYT, BHTN nói trên là hành vi vi phạm Hiến pháp về quyền con người và đã gây hậu quả nghiêm trọng, không chỉ thiệt hại về vật chất, ảnh hưởng đến quỹ BHXH, BHYT, BHTN mà còn gây ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động; cụ thể:

- Ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động: Người lao động không được tham gia BHXH, BHYT, BHTN hoặc tham gia không đầy đủ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền thụ hưởng các chế độ BHXH, BHYT, BHTN, ảnh hưởng đến ASXH và trật tự an toàn xã hội.

- Làm thất thoát quỹ BHXH, BHYT, BHTN, ảnh hưởng đến an toàn, cân đối quỹ BHXH, BHYT trong ngắn hạn và dài hạn: quỹ BHXH, BHYT, BHTN hình thành trên cơ sở đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động, bảo đảm chi trả chế độ BHXH, BHYT cho người tham gia trên nguyên tắc chia sẻ rủi ro. Việc không thực hiện nghĩa vụ đóng hoặc nợ BHXH, BHYT kéo dài ảnh hưởng đến nguồn thu của quỹ BHXH, BHYT, BHTN, không bảo đảm khả năng chi trả của quỹ, gây mất cân đối quỹ.

- Ảnh hưởng đến tính nghiêm minh của pháp luật và mục tiêu của các chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước. Mục tiêu mở rộng đối tượng tham gia theo tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW ban hành ngày 23/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng sẽ khó đạt được nếu không có biện pháp buộc chủ sử dụng lao động tuân thủ nghiêm pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN.

Chính vì vậy, có thể khẳng định rằng, dù bất kỳ lý do nào thì chủ sử dụng lao động vẫn phải có trách nhiệm đăng ký tham gia BHXH, BHYT, BHTN đầy đủ cho người lao động, vì đây là quy định bắt buộc. Ngoài việc quan tâm đến lợi nhuận, doanh nghiệp cần phải chú trọng nâng cao mức sống và chất lượng sống cho người lao động vì cho người lao động là một trong những nhân tố quan trọng đóng góp vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Đặc biệt, chú trọng đến các chính sách ASXH đối với người lao động. Các doanh nghiệp cần nhìn nhận trách nhiệm ASXH đối với cho người lao động như một ưu thế để thu hút và trọng dụng nhân tài. Quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, thực hiện tốt trách nhiệm ASXH với người lao động đồng nghĩa với việc sẽ khẳng định được thương hiệu, uy tín của doanh nghiệp. Đồng thời khi quyền lợi BHXH, BHYT, BHTN của người lao động được bảo đảm thì năng suất lao động được nâng cao, thu hút được nhân tài.

Về phía các cơ quan quản lý Nhà nước, việc khắc phục tình trạng nợ đọng, trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN để đảm bảo quyền lợi của người lao động không chỉ là nhiệm vụ riêng của ngành BHXH mà còn là của cả hệ thống chính trị các cấp. Để thực hiện tốt chính sách BHXH, BHYT, BHTN cần sự quan tâm chỉ đạo, tăng cường công tác quản lý Nhà nước trong việc phối hợp tổ chức thực hiện nhằm tác động mạnh mẽ đến nhận thức và hành động của các bên, nhất là các doanh nghiệp thì mới có thể thực hiện được những mục tiêu ASXH đề ra. Trong đó, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật lao động, BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động và người sử dụng lao động cần được chính quyền địa phương và các ngành chức năng quan tâm hơn nữa. Tiếp đến là việc tăng cường công tác thanh, kiểm tra, giám sát thực hiện các quy định liên quan đến thực hiện an sinh xã hội quy định tại Bộ Luật lao động, Luật BHXH, Luật BHYT và các Luật có liên quan khác; cương quyết xử phạt vi phạm hành chính và xem xét xử lý hình sự đối với các doanh nghiệp cố tình chây ì, không khắc khắc phục nợ đọng và trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động theo quy định tại Điều 216 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017)./.

 (bài và ảnh: Đặng Hồng Quang)

Share:

16 thg 7, 2010

Ông chủ và người đại diện của doanh nghiệp

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ tịch Công ty Luật BASICO
Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp (DN) được ví như “cây nêu” của DN để bàn dân thiên hạ trông vào. Vì vậy, người đại diện theo pháp luật của DN được pháp luật quan tâm tương đối kỹ càng, cụ thể.
Ai là người đại diện theo pháp luật của DN?
Người đại diện theo pháp luật của DN là người bị pháp luật “túm tóc”, giao phó những trách nhiệm cá nhân từ loại nhỏ nhất cho đến loại lớn nhất của DN.
Theo quy định tại Điều 141 của Bộ luật Dân sự (năm 2005), thì người đại diện của DN là người đứng đầu pháp nhân (tức là “thủ trưởng” của DN). Người đại diện theo pháp luật của DN phải được ghi nhận trong Điều lệ, đồng thời phải được ghi nhận trên Giấy chứng nhận ĐKKD của DN. Người đại diện theo pháp luật của DN có thể là Chủ tịch hoặc Giám đốc hay Tổng Giám đốc – Sau đây gọi chung là Giám đốc – (các điều 46, 67, 95 và 116, Luật DN năm 2005), cụ thể với từng loại DN là những người dưới đây:
- Đối với công ty TNHH 1 thành viên, là Chủ tịch HĐTV hay Chủ tịch Công ty hoặc Giám đốc;
- Đối với công ty TNHH 2 thành viên trở lên, là Chủ tịch HĐTV hoặc Giám đốc. Nếu Chủ tịch HĐTV là người đại diện theo pháp luật, thì các giấy tờ giao dịch phải ghi rõ điều đó (khoản 4, Điều 49, Luật DN). Đối với công ty TNHH chỉ có 2 thành viên, nếu có thành viên là cá nhân làm người đại diện theo pháp luật của công ty bị tạm giữ, tạm giam, trốn khỏi nơi cư trú, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị Tòa án tước quyền hành nghề vì phạm các tội buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối khách hàng và các tội khác theo quy định của pháp luật, thì thành viên còn lại đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty cho đến khi có quyết định mới của HĐTV (khoản 2, Điều 12, Nghị định số 139/2007/NĐ-CP ngày 05-9-2007 của Chính phủ Hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật DN);
- Đối với công ty cổ phần, là Chủ tịch HĐQT hoặc Giám đốc. Riêng khoản 3, Điều 9, Quy định về tổ chức và hoạt động của HĐQT, Ban kiếm soát, Tổng giám đốc ngân hàng TMCP, ban hành kèm theo Quyết định số 1087/2001/QĐ-NHNN ngày 27-8-2001 của Thống đốc NHNN lại chốt cứng khác với luật là: “Chủ tịch HĐQT là người đại diện theo pháp luật của Ngân hàng TMCP và được ghi trong Điều lệ Ngân hàng TMCP”;

- Đối với công ty hợp danh, là tất cả các Thành viên hợp danh. Riêng trường hợp này, Thông tư số 03/2006/TT-BKH ngày 19-10-2006 của Bộ trưởng Bộ KH và ĐT Hướng dẫn một số nội dung về hồ sơ, trình tự, thủ tục theo quy định tại Nghị định 88/2006/NĐ-CP, vẫn xác định cụ thể người đại diện theo pháp luật của công ty;
- Đối với công ty nhà nước, là Giám đốc (khoản 1, Điều 23 và khoản 1, Điều 38, Luật DNNN);
- Đối với DN tư nhân, là Chủ DN;
- Đối với HTX, là Trưởng Ban quản trị hoặc Chủ nhiệm HTX.
Như vậy, các chức danh khác như Phó chủ tịch, Phó tổng giám đốc, giám đốc chi nhánh,… chỉ có thể là người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền, chứ không bao giờ là người đại diện theo pháp luật của DN. Chủ tịch hoặc Tổng giám đốc DN, nếu không phải là người đại diện theo pháp luật của DN thì không có quyền đương nhiên được ký kết văn bản giao dịch với các đối tác.
Bộ luật Dân sự, Luật DNNN, Luật Doanh nghiệp cũng có những quy định rất rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Theo đó, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là người có “quyền sinh”, quyền sát” của DN, ít nhất là về mặt pháp lý thể hiện ra bên ngoài.
Mâu thuẫn giữa “chủ quyền” và “pháp quyền”
Với những quy định của pháp luật như đã trình bày trên, đã có những mâu thuẫn phát sinh giữa quyền của chủ sở hữu với quyền của người đại diện theo pháp luật của DN.
Trong các DN dân doanh, tùy theo hình thức tổ chức của DN, Chủ tịch công ty hoặc Chủ tịch HĐTV hay Chủ tịch HĐQT là chủ sở hữu hoặc là đại diện của các chủ sở hữu. Để điều hành hoạt động hằng ngày của DN, tất nhiên phải có chức danh Giám đốc. Sẽ không có mâu thuẫn phát sinh khi chủ sở hữu DN đồng thời là người đại diện theo pháp luật như trong phần lớn các công ty TNHH và công ty cổ phần hiện nay, Chủ tịch HĐTV, Chủ tịch HĐQT đều kiêm Giám đốc. Mô hình này có một nhược điểm lớn là tập trung mọi quyền lực vào một cá nhân, chấp nhận tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi” trong quản trị DN. Điều đó tiềm ẩn những rủi ro lớn trong quản trị DN, nhất là những DN có quy mô lớn.
Trường hợp Chủ tịch công ty hoặc Chủ tịch HĐTV hay Chủ tịch HĐQT không phải là người đại diện theo pháp luật của DN, mà người đại diện theo pháp luật là Giám đốc, thì cũng nảy sinh nhiều mâu thuẫn, đặc biệt là khi Giám đốc không phải là chủ sở hữu hoặc chỉ sở hữu một số vốn nhỏ. Chủ sở hữu rất khó có thể kiểm soát được hoạt động của Giám đốc với tư cách là người đại diện theo pháp luật của DN bởi vì: Chủ tịch HĐTV, Chủ tịch HĐQT không được phép can thiệp vào công việc điều hành hoạt động hằng ngày của Giám đốc; không được ký kết các văn bản giao dịch với các đối tác của DN trong hoạt động đầu tư, kinh doanh. Theo đúng quy định, Chủ tịch HĐTV, Chủ tịch HĐQT – “ông chủ” DN – muốn ký kết hợp đồng, lại phải “xin” giấy uỷ quyền của Giám đốc – người làm thuê. Không những thế, Chủ tịch HĐTV, Chủ tịch HĐQT không được hành động nhân danh cá nhân. Văn bản do Chủ tịch HĐTV, Chủ tịch HĐQT ký phải ghi “T/M HĐTV” hoặc “T/M HĐQT” vì mọi vấn đề do Chủ tịch HĐTV, Chủ tịch HĐQT đưa ra đều phải dựa trên nghị quyết của tập thế HĐTV, HĐQT. Trong khi đó, theo quy định của pháp luật, Giám đốc – người đại diện theo pháp luật của DN lại gần như có toàn quyền thực hiện các giao dịch dân sự, kinh tế. Với quyền hạn luật định của mình, Giám đốc DN có thể thực hiện những việc gian lận để tư lợi, bố trí lao động là thân nhân nhằm thiết lập mô hình gia đình trị trong DN, v.v… Nếu phát hiện ra những việc làm không ổn của Giám đốc, về lý Chủ tịch HĐTV, HĐQT cũng khó có thể ngăn chặn ngay lập tức. Sau khi đưa vấn đề ra cuộc họp và có được kết luận cần thiết, thì sự đã rồi và chỉ còn giải quyết, khắc phục hậu quả.
Pháp luật có nhầm lẫn?
Điều 31, Luật Kế toán quy định trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của DN là bố trí người làm kế toán trưởng, quyết định thuê người làm kế toán trưởng. Trong khi đó Điều 47 của Luật DN là quy định HĐTV của công ty TNHH có 2 thành viên trở lên có thẩm quyền “quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, ký và chấm dứt hợp đồng” đối với Kế toán trưởng. Tương tự là quy định về thẩm quyền bổ nhiệm kế toán trưởng của ngân hàng thương mại cổ phn là thuộc thẩm quyền của HĐQT theo Nghị định số 49/2000/NĐ-CP ngày 12-9-2000 của Chỉnh phủ về tổ chức và hoạt đọng của ngân hàng thương mại. Luật DNNN cũng không cho phép người đại diện theo pháp luật của công ty nhà nước có quyền quyền bố trí kế toán trưởng. Như vậy, thì DN thực hiện theo quy định nào cũng có nguy cơ trái luật (!?).
Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, còn thoả ước lao động tập thể là văn bản thoả thuận giữa đại diện giới chủ và đại diện giới “thợ”, vì vậy thẩm ký kết về phía người sử dụng lao động phải là đại diện chủ sở hữu hoặc là người đại diện theo pháp luật của DN. Tuy nhiên Điều 45 của Bộ luật Lao động lại quy định về ký thoả ước với: “Đại diện ký kết của bên người sử dụng lao động là Giám đốc doanh nghiệp hoặc người có giấy uỷ quyền của Giám đốc doanh nghiệp”. Và Thông tư số 31/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22-9-2003 của Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 44/2003/NĐ-CP của Chính phủ về hợp đồng lao động lại ấn định: Giám đốc DN là người đại diện cho DN ký hợp đồng lao động. Nếu Giám đốc là người làm thuê và cũng không phải là người đại diện theo pháp luật của DN, thì việc phải thò bút vào ký thoả ước lao động và hợp đồng lao động theo những quy định này sẽ là một điều hết sức vô duyên. 

Nguồn: TẠP CHÍ NHÀ QUẢN LÝ SỐ 72, THÁNG 6 NĂM 2009
Share:

29 thg 7, 2008

Tìm hiểu về Bảo hiểm xã hội


Bảo hiểm xã hội là việc tạo ra nguồn thu nhập thay thế trong trường hợp nguồn thu nhập bình thường bị gián đoạn đột ngột hoặc mất hẳn, bảo vệ cho những người lao động làm công ăn lương trong xã hội. Trong các cơ chế chủ yếu của hệ thống an sinh xã hội, bảo hiểm xã hội là trụ cột quan trọng nhất.


Lịch sử

Các chế độ của bảo hiểm xã hội đã hình thành khá lâu truớc khi xuất hiện thuật ngữ an sinh xã hội. Hệ thống bảo hiểm xã hội đầu tiên được thiết lập tại nước Phổ (nay là Cộng hòa Liên bang Đức) dưới thời của Thủ tướng Bismarck (1850) và sau đó được hoàn thiện (1883-1889) với chế độ bảo hiểm ốm đau; bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp; bảo hiểm tuổi già, tàn tật và sự hiện diện của cả ba thành viên xã hội: người lao động; người sử dụng lao động và Nhà nước. Kinh nghiệm về bảo hiểm xã hội ở Đức, sau đó, được lan dần sang nhiều nước trên thế giới, đầu tiên là các nước châu Âu (Anh: 1991, Ý: 1919, Pháp: từ 1918 ...), tiếp đến là các nước châu Mỹ Latinh, Hoa Kỳ, Canada (từ sau 1930) và cuối cùng là các nước châu Phi, châu Á (giành độc lập sau chiến tranh thế giới lần thứ 2).


Các chế độ đảm bảo

Theo tổng kết của ILO (công ước 102 năm 1952), bảo hiểm xã hội bao gồm chín chế độ chủ yếu sau: chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp gia đình, trợ cấp thai sản, trợ cấp tàn tật, trợ cấp tử tuất. Công ước cũng nói rõ là những nước phê chuẩn công ước này có quyền chỉ áp dụng một số chế độ, nhưng ít nhất phải áp dụng một trong các chế độ: trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, trợ cấp tàn tật hoặc trợ cấp tử tuất. Việc áp dụng bảo hiểm xã hội trên của quốc gia khác nhau thường cũng rất khác nhau về nội dung thực hiện tùy thuộc vào nhu cầu bức bách của riêng từng nơi trong việc đảm bảo cuộc sống của người lao động, ngoài ra, còn tùy thuộc vào khả năng tài chính và khả năng quản lí có thể đáp ứng. Tuy nhiên, xu hướng chung là theo đà phát triển kinh tế - xã hội, bảo hiểm xã hội sẽ mở rộng dần về số lượng và nội dung thực hiện của từng chế độ.

Theo thống kê của ILO, đến năm 1981, có 139 nước có thực hiện hệ thống an sinh xã hội nói chung, bảo hiểm xã hội nói riêng, trong đó có 127 nước có chế độ trợ cấp tuổi già, tàn tật và tử tuất; 79 nước có chế độ trợ cấp ốm đau và thai sản, 136 nước có chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, 37 nước có chế độ trợ cấp thất nghiệp.

Đặng Hồng Quang
(Theo:Wikipedia)
Share:

28 thg 7, 2008

BHYT - Khái niệm và bản chất



Khái niệm về BHYT được trình bày trong cuốn "Từ điển Bách khoa Việt Nam I xuất bản năm 1995" - Nhà xuất bản từ điển Bách khoa - trang 151 như sau:
"BHYT: loại bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khỏe, khám bệnh và chữa bệnh cho nhân dân".
Mặt khác, BHYT là một trong 9 nội dung của BHXH được quy định tại Công ước 102 ngày 28.6.1952 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về các tiêu chuẩn tối thiểu cho các loại trợ cấp BHXH.

Từ những khái quát trên, cùng với những thực tế đã diễn ra trong lịch sử phát triển BHXH, BHYT trên thế giới hơn 100 năm và trong nước hơn 10 năm nay, chúng ta có thể phân tích đầy đủ hơn về bản chất của BHYT.
BHYT trước hết là một nội dung của BHXH - một trong những bộ phận quan trọng của hệ thống bảo đảm xã hội hay còn gọi là hệ thống an sinh xã hội. Cùng với các hệ thống cung cấp (hay còn gọi là chế độ ưu đãi xã hội, chế độ bao cấp) và hệ thống cứu trợ xã hội, hoạt động của BHYT nói riêng và hoạt động của BHXH nói chung, đã thực sự trở thành nền móng vững chắc cho sự bình ổn xã hội. Chính vì vai trò cực kỳ quan trọng của BHXH như vậy, cho nên ở mọi quốc gia trên thế giới, hoạt động của BHXH luôn do Nhà nước đứng ra tổ chức thực hiện theo hệ thống pháp luật về BHXH. Đó cũng là một cơ sở quan trọng để phân biệt giữa BHXH về y tế và bảo hiểm tư nhân về y tế. Trong các nước công nghiệp phát triển thì loại hình BHYT tư nhân cũng được phát triển và cùng tồn tại song song với BHXH về y tế. Vì vậy, nói đến BHYT ở đây là chúng ta hiểu là đang đề cập đến BHXH về y tế hay nói cách khác là BHYT theo luật pháp.Thực ra BHXH ở nước ta hiện có các chế độ: Chế độ trợ cấp ốm đau, Chế độ trợ cấp thai sản, Chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, Chế độ hưu trí, Chế độ tử tuất thì cũng có thể hiểu BHYT là Chế độ khám chữa bệnh.
Khi lâm bệnh, người bệnh buộc phải đến các cơ sở y tế để được khám chữa bệnh (KCB). Cũng từ bệnh tật, nhất là những bệnh tật kinh niên, bệnh mãn tính hoặc bệnh hiểm nghèo đã dẫn đến các khoản chi phí KCB cực kỳ lớn. Có những người bệnh phải được sử dụng các công nghệ kỹ thuật cao trong việc chẩn đoán và chữa trị bệnh, phải sử dụng các loại thuốc đắt tiền và phải lưu trú dài ngày tại bệnh viện. Những khoản chi phí này không phải ai cũng có thể tự lo liệu được. Bệnh tật đã dồn con người vào những thảm cảnh đáng lo ngại. Đối với những người bệnh do hoàn cảnh nghèo túng thì phải vay mượn để chữa trị bệnh tật và sau đó trả nợ và có nhiều người cũng không thể vay mượn để tiếp tục được chữa trị. Những người có điều kiện kinh tế khá giả hơn hoặc cận nghèo thì sau những đợt bệnh tật cũng có thể bị đẩy vào tình cảnh nghèo khó. Đồng thời, với bệnh tật cũng kéo theo sự mất mát về thu nhập do người bệnh không có sức khoẻ để làm việc. Từ đó đã đe doạ đến cơ sở kinh tế và sự tồn tại trước hết của bản thân những người lao động, sau đó đến các thành viên, những người ăn theo trong gia đình người bệnh và sau đó ảnh hưởng đến sự ổn định xã hội. Do vậy, người ta phải cần đến BHYT. BHYT sẽ đảm bảo chi trả toàn bộ hoặc từng phần (tuỳ theo điều kiện kinh tế xã hội của từng nước) những chi phí KCB "khổng lồ" nói trên, giúp cho người bệnh vượt qua cơn hoạn nạn về bệnh tật, sớm phục hồi sức khoẻ cũng như ổn định cuộc sống gia đình.
BHYT sẽ bảo đảm cho những người tham gia BHYT và các thành viên gia đình của họ những khả năng để đề phòng, ngăn ngừa bệnh tật; phát hiện sớm bệnh tật; chữa trị và khôi phục lại sức khoẻ sau bệnh tật. Do các chế độ BHXH về khám chữa bệnh, chế độ thai sản và chế độ ốm đau (chi trả tiền thay thế tiền lương trong những ngày ốm đau không làm việc được) đều có cùng phương thức hoạt động và các nguyên tắc cơ bản chung, cho nên tùy theo đặc điểm lịch sử, tập quán của từng nước mà BHYT có thể bao gồm cả chế độ khám chữa bệnh, chế độ thai sản và chế độ ốm đau hoặc được tách ra theo từng chế độ riêng biệt. Điều đó liên quan đến phạm vi đối tượng tham gia BHXH, đến mức đóng góp và các chế độ được hưởng.
ở các nước công nghiệp phát triển người ta định nghĩa BHYT trước hết là một tổ chức cộng đồng đoàn kết tương trợ lẫn nhau, nó có nhiệm vụ gìn giữ sức khỏe, khôi phục lại sức khỏe hoặc cải thiện tình trạng sức khỏe của người tham gia BHYT. Như vậy, trong hoạt động BHYT thì tính cộng đồng đoàn kết cùng chia xẻ rủi ro rất cao; nó là nền tảng cho lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc sức khỏe; nó điều tiết mạnh mẽ giữa người khoẻ mạnh với người ốm yếu, giữa thanh niên với người già cả và giữa người có thu nhập cao với những người có thu nhập thấp. Sự đoàn kết tương trợ lẫn nhau trong BHYT là sự đảm bảo cho từng người dựa trên cơ sở của sự đoàn kết không điều kiện, của sự hợp tác cùng chung lòng, chung sức và gắn kết chặt chẽ với nhau. Theo định nghĩa BHYT nêu trên, thì sự đoàn kết tương trợ vừa mang một ý nghĩa tự giác, vừa mang ý nghĩa cùng chịu trách nhiệm và vừa có sự thống nhất về quan điểm chung. Người ta còn cho rằng: Đoàn kết tương trợ là nền tảng xã hội cho sự phát triển của mỗi chế độ xã hội loài người và nó mang lại một gương mặt nhân đạo mới cho chế độ xã hội đó. Tính nhân đạo của hoạt động đoàn kết tương trợ sẽ đánh dấu bước tiến bộ của thể chế xã hội. Đây cũng chính là bản chất nhân văn của hoạt động BHYT mà chúng ta thường đề cập đến. Tuy nhiên đoàn kết tương trợ không chỉ là quyền được nhận mà còn phải là nghĩa vụ đóng góp. Sự công bằng và bình đẳng của một chế độ xã hội được gắn bó với sự đoàn kết được thể hiện ở chỗ: ai muốn đạt được sự bền chặt về đoàn kết thì cần thực hiện nhiều hơn sự công bằng. Điều đó chỉ có thể được tạo ra thông qua sự điều chỉnh trong thực tế, vì "sự công bằng" là yếu tố động, nó chỉ đạt được tại một thời điểm, còn lại đều là sự không công bằng. Đây là một trong những yếu tố tác động đến sự phát triển xã hội. Do vậy, cần phải có sự tích cực điều chỉnh thực tế một cách thường xuyên nhằm đảm bảo mối quan hệ tương thích giữa nghĩa vụ và quyền lợi trong hoạt động của BHYT.
Nếu nhìn trên tổng thể nền kinh tế quốc dân và xét về phương diện điều tiết kinh tế vĩ mô thì công cụ BHXH - trước hết phải kể đến BHYT là công cụ thứ hai trong quá trình phân phối lại (công cụ thứ nhất là thuế) góp phần bảo đảm sự bình đẳng và công bằng xã hội.
Luật BHYT bao giờ cũng phải đề cập đến phạm vi đối tượng tham gia và nghĩa vụ đóng góp. Theo thông lệ chung, người lao động căn cứ vào khả năng thu nhập từ hoạt động lao động của bản thân mình mà có nghĩa vụ đóng góp hàng tháng theo tỷ lệ quy định vào quỹ BHYT. Tỷ lệ đóng góp sẽ được các cấp có thẩm quyền xem xét điều chỉnh hàng năm căn cứ vào diễn biến về chi phí KCB chung của cả cộng đồng những người tham gia BHYT vào những năm trước và dự báo tình hình của năm tới.
Trong quá trình phát triển lịch sử của BHXH thì BHYT là lĩnh vực được phát triển đầu tiên. Mặc dù hoạt động mang tính BHXH đã có từ xa xưa nhưng phải đến thời kỳ cách mạng công nghiệp (nhất là ở các nước công nghiệp phát triển), hoạt động BHXH mới mang đầy đủ ý nghĩa. BHXH ở Đức do Thủ tướng Otto Von Bismarck khai sinh từ năm 1881 và được coi là sớm nhất trên thế giới. Đạo luật BHXH đầu tiên được ban hành là Đạo luật về bảo hiểm ốm đau ngày 15/6/1883. Sau đó mới đến Đạo luật về bảo hiểm tai nạn được ban hành ngày 6/7/1884, Đạo luật về bảo hiểm hưu trí ban hành ngày 22/6/1889, Đạo luật về bảo hiểm thất nghiệp ban hành ngày 16/7/1927 và Đạo luật về bảo hiểm chăm sóc người già ban hành ngày 26/5/1994. Lịch sử phát triển của BHXH đã thể hiện rõ tính kế thừa, phát triển và không ngừng hoàn thiện từ các bước đơn giản, sơ khai cho đến trình độ hiện đại ngày nay. Đó cũng là quá trình phát triển đồng bộ thể hiện ở chỗ: cùng với việc mở rộng phạm vi đối tượng tham gia BHXH cũng là quá trình không ngừng mở rộng các chế độ BHXH và nâng cao chất lượng phúc lợi cho người thụ hưởng.
Hệ thống BHXH về y tế ngay từ khi hình thành đã không định hướng theo mức độ rủi ro mà định hướng theo nguyên tắc đáp ứng đặc biệt và không phải chi trả trực tiếp. Điều đó được thể hiện rất rõ là: khi bị ốm đau thì người bệnh sẽ được chữa trị cho đến khi khoẻ mạnh trở lại bằng mọi phương pháp, kỹ thuật y tế hiện thời mà không căn cứ vào trước đó họ đã đóng góp BHXH được bao nhiêu. Nếu định hướng theo mức độ rủi ro thì khi ốm đau họ sẽ được đền bù với mức là bao nhiêu căn cứ vào trước đó họ đã đóng góp theo mức nào như trong BHYT tư nhân hay còn gọi là bảo hiểm thương mại. Chính định hướng này đã làm nền tảng cho các nguyên tắc cơ bản về BHYT, nó được tồn tại và phát triển đến ngày nay. Đến nay, đặc trưng của hoạt động BHXH trong lĩnh vực y tế vẫn là sự định hướng theo nhu cầu sức khoẻ cần bảo vệ, đối tượng tham gia vẫn là đông đảo những người có quan hệ lao động, đối tượng này chiếm phần lớn trong BHYT. Trong quá trình phát triển, BHYT luôn mở rộng phạm vi đối tượng tham gia theo nghĩa vụ (mang tính chất bắt buộc) và ban đầu là BHYT cho người lao động làm thuê (người có quan hệ lao động), rồi đến BHYT cho người lao động tự do, cho người lao động trong nông nghiệp ... cho đến khi BHYT toàn dân.
Quá trình phát triển của lịch sử BHXH trên thế giới đã chứng minh sự cần thiết của BHYT là một hoạt động bảo hiểm trước hết của cộng đồng xã hội chống lại rủi ro về bệnh tật gây nên. Đồng thời, loại rủi ro bệnh tật này luôn có khả năng tác động đến mọi thành viên trong xã hội, ở mọi lứa tuổi từ trẻ sơ sinh cho đến người già cả, ở mọi môi trường và mọi điều kiện sống khác nhau... Vì vậy, BHYT luôn là mạng lưới bảo hiểm bao trùm rộng khắp nhất.
Trong hệ thống BHYT, rủi ro cần được bảo hiểm cũng như những dịch vụ y tế cần thiết cho từng trường hợp cụ thể, mỗi người bệnh có thể nhận được đầy đủ các dịch vụ y tế và thuốc men cần thiết mà không theo phương thức bảo hiểm thuần tuý (tức là căn cứ vào mức đóng thì nhận được một mức hưởng tương ứng) và hoàn toàn không có ý nghĩa khi xem xét đến mức lương làm căn cứ đóng bảo hiểm.
Nếu nhìn nhận dưới giác độ kinh tế thì BHYT trước hết được hiểu là sự hợp nhất kinh tế của số lượng lớn những người trước cùng một loại hiểm nguy do bệnh tật gây nên mà trong từng trường hợp cá biệt không thể tính toán trước và lo liệu được. Nhưng cái chung đó cần phải đáp ứng được bằng nguồn tài chính dự tính một cách thoả đáng thông qua hệ thống cân bằng rủi ro tương ứng do Nhà nước đứng ra tổ chức thực hiện.
Cụ thể như sau:
Tổng chi phí cho khám chữa bệnh = Tổng số tiền đóng góp của những người tham gia BHYT.
Như vậy, cân đối về chi phí KCB được thực hiện cân bằng giữa một bên là tổng số chi phí KCB cho những người có nhu cầu và cần phải KCB và bên kia là tổng số đóng góp của tất cả những người tham gia BHYT bất kể họ có hoặc không có nhu cầu KCB (tức là cả những người đang khoẻ mạnh). Thời gian cân đối về thu - chi của BHYT thông thường là một năm. Có những nước người ta tính toán cân đối để dự trù kinh phí chi trả cho thời gian thêm là 1 tháng. Việc cân đối thu chi còn có thể được bổ sung thêm tuỳ tình hình cụ thể của từng nước và từng năm cụ thể. Trong tổng số chi còn phải tính thêm khoản chi phí cho bộ máy quản lý làm công tác BHYT. Trong khoản thu có thể bao gồm cả các khoản thu từ đóng góp của ngân sách địa phương, của Trung ương và các khoản thu khác.
Nguyên tắc cộng đồng chia xẻ rủi ro với ý tưởng nhân văn cao cả của nó đã loại trừ mục tiêu lợi nhuận thương mại của cộng đồng những người tham gia BHYT. Do vậy, hoạt động BHXH về y tế không có khoản thu lợi nhuận và đương nhiên cũng không vì mục đích lợi nhuận. Vì vậy, tỷ lệ đóng góp chỉ được nâng lên theo đòi hỏi quyền lợi chung của quá trình thực hiện BHYT. Tức là tỷ lệ đóng góp BHYT chỉ được nâng lên theo nhu cầu chữa trị bệnh tật, nhu cầu nâng cao chất lượng KCB và ứng dụng những thành tựu khoa học tiến tiến vào công tác KCB của cả cộng đồng.
Phương thức đoàn kết, tương trợ, chia xẻ rủi ro phải được thực hiện bằng sự điều tiết nhằm cân bằng mang tính xã hội. Việc lập ra quỹ BHYT và từng bước mở rộng phạm vi đối tượng tham gia mà từng bước mở rộng phạm vi cân bằng, chia xẻ rủi ro trong cộng đồng những người tham gia BHYT. Về mặt kỹ thuật bảo hiểm thì nguyên tắc đoàn kết tương trợ chia xẻ rủi ro chính là quá trình phân phối lại giữa những người khoẻ mạnh với người ốm đau, người trẻ với người già... Vì vậy, đối tượng tham gia bảo hiểm phải không ngừng được mở rộng trong suốt quá trình phát triển và được định hướng cho nhiều nhóm đối tượng lao động khác nhau (ví dụ không phân biệt giữa người lao động có thu nhập cao với người có thu nhập thấp, giữa người đi làm việc với người thất nghiệp hoặc người đã nghỉ hưu, giữa gia đình có thu nhập cao, không con cái với gia đình đông con) mới có ý nghĩa trong việc điều tiết trong cộng đồng xã hội.
Nguyên tắc đoàn kết tương trợ cùng chia xẻ rủi ro chỉ được thực hiện một cách đầy đủ và hợp lý thông qua những giới hạn nhất định. BHYT chỉ bao gồm những đối tượng là những người về nguyên tắc luôn có nhu cầu được bảo vệ về sức khoẻ. Những đối tượng cụ thể sẽ được quy định trong pháp luật.
BHXH về y tế được thực hiện trước hết đối với những người lao động phụ thuộc, tức là người lao động không có tư liệu sản xuất và phải đi làm thuê hay những người có quan hệ lao động. Đây là loại hình BHXH nghĩa vụ, nó mang tính chất bắt buộc đối với mọi người lao động phụ thuộc và chủ sử dụng lao động. Sau đó với bản chất ưu việt của BHXH về y tế nên nó được mở rộng ra các đối tượng lao động khác như người hành nghề tự do, lao động nông, lâm ngư nghiệp... và BHYT theo đơn vị gia đình.
Vấn đề KCB không đơn thuần chỉ liên quan đến vấn đề kỹ thuật y tế mà còn liên quan một cách rất chặt chẽ đến các yếu tố kinh tế như: các khoản chi trả cho các nghiệp vụ chuyên môn kỹ thuật (khám bệnh, phẫu thuật, thủ thuật...) của các bác sĩ, chi phí cho bệnh viện với các trang thiết bị, vật tư y tế phục vụ cho KCB và thuốc men - nếu nhìn dưới giác độ kinh tế - đó là "Cung" của ngành y tế. Còn phía "Cầu" là bệnh tật, những bệnh tật này cần đến các dịch vụ KCB và những hàng hóa cần thiết cho sức khoẻ. Vì vậy khi thực hiện BHYT, ở các nước công nghiệp phát triển bên cạnh việc sử dụng vai trò điều tiết của Nhà nước, người ta còn chú trọng sử dụng quan hệ cung - cầu điều tiết trên thị trường sức khoẻ hay còn gọi là thị trường y tế nhằm đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn quỹ đóng góp của người tham gia BHYT và nâng cao chất lượng KCB.
Trong các nước công nghiệp phát triển ở châu Âu, số người tham gia BHYT theo luật pháp chiếm tới 90% dân số, chỉ 10% dân số còn lại không tham gia BHXH. Nhóm người này không thuộc diện đối tượng điều chỉnh của luật BHYT và phần lớn trong số họ là những người giàu có, họ có đủ khả năng tự lo liệu khi ốm đau hoặc tham gia BHYT tư nhân để hưởng những quyền lợi cao hơn khi ốm đau.
ở nước ta BHYT xã hội được tiến hành từ năm 1992 và cho đến nay vẫn thực hiện BHYT bắt buộc đối với người lao động có quan hệ việc làm giữa người sử dụng lao động với người lao động. Những đối tượng xã hội như: người có công với cách mạng, thân nhân sĩ quan quân đội, người nghèo cũng được Nhà nước cấp kinh phí để tham gia BHYT xã hội. Các đối tượng là trẻ em dưới 6 tuổi được khám chữa bệnh miễn phí bằng nguồn ngân sách của Nhà nước và địa phương và đang được xem xét để tham gia BHYT. Hình thức BHYT tự nguyện đang được vận động thực hiện đối với học sinh, sinh viên và nhóm cộng đồng theo địa bàn dân cư hoặc theo tổ chức xã hội...
Trong khi đó lĩnh vực bảo hiểm tư nhân (hay có thể hiểu là bảo hiểm cá thể) nói chung ở Việt Nam cũng đang được phát triển. Biểu hiện mà bảo hiểm tư nhân hiện đang hoạt động là bảo hiểm con người và bảo hiểm tài sản như: bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm ôtô, xe máy... do các doanh nghiệp Nhà nước như: Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam, Công ty Bảo hiểm PJICO... và các doanh nghiệp nước ngoài như: Prudential, Manulife, AIA... đang cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường bảo hiểm.Thị trường bảo hiểm ở nước ta cũng được chú trọng phát triển và Nhà nước đã ban hành Luật kinh doanh bảo hiểm. BHYT tư nhân cũng mới được phát triển, điển hình có thể thấy được về BHYT tư nhân là các sản phẩm, bảo hiểm thân thể, bảo hiểm phẫu thuật và nằm viện... do Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam tổ chức.

TS. Phạm Đình Thành (Theo tapchibaohiemxahoi.org)
Share: